Thứ Bảy, 27 tháng 12, 2014

Nếu bị mắc bệnh gút không nên ăn hến

Hến có tên khoa học là Cyrena sumatrensis. Hến thuộc loại nhuyễn thể có vỏ hai mảnh, sống ở vùng nước lợ gần cửa sông.

Nếu bị mắc bệnh gút không nên ăn hến

Thịt hến có một số chất quan trọng như lysine, tryptophane, histidine, cystein, taurine, lecithin và các sterol. Ngoài ra còn khá nhiều chất khoáng với hàm lượng cao.
Ăn hến tốt cho sức khỏe, nhưng với những người mắc một số bệnh dưới đây cần tuyệt đối không nên ăn hến. tuy nhiên không phải ai ăn cũng tốt, Một số người mắc các bệnh sau không nên ăn hến

Những người bị gút tuyệt đối không nên ăn hến

Là một loại thực phẩm có hàm lượng đạm cao nên hến là loại có thành phần purin cao. Vì thế không nên ăn nhiều đối với những người có bệnh gút hoặc tiền sử bệnh gút.

Những người dễ bị dị ứng tuyệt đối không nên ăn hến

Những người có cơ thể mẫn cảm có thể bị dị ứng với các protein trong các loại thủy sản tuyệt đối không nên ăn hến để tránh những phản ứng phụ có thể xảy ra từ nhẹ đến nặng như: viêm da dị ứng, rối loạn tiêu hóa...

Người bị đau dạ dày tuyệt đối không nên ăn hến

Thịt hến có tính lạnh không tốt cho những người bị bệnh đau dạ dày. Nếu phải ăn cần thêm vài lát gừng tươi để điều hòa.

Người bị sỏi thận tuyệt đối không nên ăn hến

Sỏi thận được hình thành do lượng nước tiểu quá ít, hay nồng độ các chất khoáng tăng cao trong nước tiểu. Khi bị sỏi thận, người bệnh nên tránh các thực phẩm có chứa nhiều purin, và hến là một trong số đó.

Người bị bệnh gan tuyệt đối không nên ăn hến

Người mắc bệnh về gan thường bị thiếu men oxy hóa đồng huyết thanh nên các cơ quan nội tạng không thể hoàn thành nhiệm vụ thải lượng đồng dư thừa ra khỏi cơ thể.

Nếu ăn thực phẩm giàu đồng như: mực, hào, cua biển, tôm, các loại sò, hến, ngao, trai ,ốc, hạt dẻ... gan, thận, não dễ bị tổn thương; dẫn tới các triệu chứng: đi không vững, nói không rõ ràng, chân tay run rẩy, vàng da, chướng bụng.

Thứ Tư, 17 tháng 12, 2014

Cây nở ngày đất có thật chữa khỏi bệnh gout ?

Trước thông tin cho rằng cây nở ngày đất có thể trị được một số bệnh trong đó có bệnh tiểu đường, bệnh gout… Vậy thực hư về tác dụng của loại cây này thế nào, có đúng là cây này có thể chữa được các bệnh trên? Để cung cấp thông tin đến bạn đọc, phóng viên báo Sức khỏe&Đời sống đã trao đổi với các chuyên gia về lĩnh vực y học cổ truyền, y học hiện đại… xung quanh tác dụng chữa bệnh của loài cây này.
Cây nở ngày đất được bày bán trong những ngày qua tại HCM
Cây nở ngày đất được bày bán trong những ngày qua tại HCM
PGS.TS. Phạm Vũ Khánh – Cục trưởng Cục Y dược học cổ truyền – Bộ Y tế: Không có loài cây nào có thể chữa được nhiều bệnh đến thế.
Theo ông Khánh, hiện nay chưa có tài liệu nghiên cứu chắc chắn nên chưa thể nói là điều trị khỏi hẳn bệnh gút và tiểu đường như thông tin đang đồn thổi. Bên cạnh đó, không có loại cây gì có tác dụng chữa nhiều bệnh đến vậy mà chỉ có tác dụng hỗ trợ trong điều trị bệnh. Hiện tại chưa có một cây thuốc nào gọi là “thần dược” và không có một loại thuốc phù hợp với tất cả mọi người, phải sử dụng đúng cách, đúng liều và đúng bệnh mới có hiệu quả.Tại Việt Nam, đến nay chưa có nghiên cứu khoa học về công dụng của cây nở ngày đất trong việc điều trị bệnh gút và tiểu đường. Thông tin cây nở ngày đất chữa được bệnh gút, đái tháo đường đang được “rỉ tai” trong cộng đồng cũng giống như kiểu thông tin “được” đồn thổi quá lên về công dụng chữa bệnh như đã từng xảy ra với các loại cây: hoàn ngọc, lược vàng, xáo tam phân, lô hội… trước đây.
Đã là thuốc khi có dược tính chữa bệnh sẽ ít nhiều có tác dụng không mong muốn nên đều phải cẩn thận khi sử dụng. Ngay cả với cây thuốc nam, bên cạnh mặt tốt cũng có mặt hạn chế, do đó, người dân, nhất là những người bệnh đang sử dụng thuốc theo chỉ định của bác sĩ không nên vì cả tin những lời đồn về tác dụng “chưa được kiểm chứng khoa học” của nhiều loài cây mà dùng bừa bãi sẽ gây nguy hại đến sức khỏe.
Cũng liên quan đến vấn đề này, ông Khánh cho hay, đã yêu cầu chuyên viên của Cục Y dược học cổ truyền kiểm tra, tìm hiểu những thông tin liên quan đến loài cây này.
PGS.TS. Trần Ngọc Lương – PGĐ phụ trách BV Nội tiết TW: Đã có trường hợp bệnh nhân tiểu đường nhập viện cấp cứu vì dùng thuốc nam bừa bãi. Theo BS. Lương, bệnh đái tháo đường và gút thuộc loại rối loạn chuyển hóa chất đường và đạm nên nguyên tắc điều trị là tuân thủ chế độ ăn khoa học, tập luyện hợp lý và điều trị theo hướng dẫn của thầy thuốc. Do đó, người bệnh không nên dựa vào tin đồn, lời mách bảo của những người không có chuyên môn mà tùy tiện sử dụng… vì tai biến có thể xảy ra nếu không có sự theo dõi chặt chẽ của thầy thuốc.
Đã nhiều năm gắn bó với chuyên ngành khám và điều trị bệnh cho hàng trăm lượt bệnh nhân bị tiểu đường, BS. Lương cho biết đã có nhiều trường hợp người bệnh tiểu đường đang điều trị theo chỉ định của bác sĩ nhưng lại tự ý bỏ thuốc để uống các cây thuốc nam – bắc chỉ vì tin những cây đó chữa được bệnh tiểu đường nên đã phải nhập viện cấp cứu vì đường huyết lên quá nhanh.
Về thông tin cây nở ngày đất có thể chữa được bệnh tiểu đường, gút, theo BS. Lương, người bệnh, nhất là người bệnh đang điều trị tiểu đường, không nên tự ý tin dùng thay thế thuốc chữa tiểu đường, gout đã được thầy thuốc chỉ định sau khi thăm khám. BS. Lương cũng nhấn mạnh, không có cây thuốc nam nào có thể điều trị khỏi bệnh mà chỉ có tác dụng hỗ trợ trong điều trị bệnh.
BS. Trần Văn Năm – Phó Viện trưởng Viện Y Dược học Dân tộc TP.HCM: Cây nở ngày đất chưa được sử dụng phổ biến trong giới thầy thuốc y học cổ truyền hiện nay.
Cây nở ngày đất thuộc chi Gomphrena và có rất nhiều loài như: globosa, celosiosides, rubra… họ rau dền (amaranthaceae). Hiện trên nhiều tuyến đường ở TP. Hồ Chí Minh có bán loài cây với hoa trắng, thân màu tím, lá có nhiều lông mịn… có thể thuộc chi celosiosides. Theo một số sách dược liệu trong và ngoài nước thì cây có tác dụng trị ho, hen suyễn, sốt ở trẻ em, huyết trắng ở phụ nữ, chống vi khuẩn, thiếu máu, bị mệt mỏi, hạ sốt, kháng viêm, hạn chế phát triển của một số loại vi khuẩn, lợi tiểu, chống ôxy hóa
Theo BS. Năm, đây là loại cây có dược tính, dùng làm thuốc được và có thể có lợi với một số bệnh. Tuy nhiên, loại cây này chưa được sử dụng phổ biến trong giới thầy thuốc y học cổ truyền hiện tại và chỉ sử dụng theo kinh nghiệm, chưa được nghiên cứu về độc tính, tác dụng dược lý lâm sàng cũng như chỉ định điều trị riêng đối với 2 loại bệnh đái tháo đường và gút.
 Theo Thái Bình – Hải Hoa/ Sức khỏe đời sống

Thứ Hai, 15 tháng 12, 2014

Các bệnh lý đi kèm với gout

Béo phì: Có sự liên quan giữa trọng lượng cơ thể và nồng độ acid uric máu. Tỉ lệ bệnh gout tăng rõ rệt ở những người có trọng lượng cơ thể tăng trên 10 %. Béo phì làm tăng tổng hợp acid uric máu và làm giảm thải acid uric niệu, kết hợp của cả 2 nguyên nhân gây tăng acid uric máu. Theo các thống kê gần đây, 50 % bệnh nhân gout có dư cân trên 20 % trọng lượng cơ thể. 

Tăng lipid máu:
Sự kết hợp giữa tăng TG máu và tăng acid uric máu đã được xác định chắc chắn. Có đến 80 % người  tăng TG máu có sự phối hợp của tăng acid uric máu, và khoảng 50 % - 70 % bệnh nhân gout có kèm tăng TG máu. 

Ở bệnh nhân gout, ngoài sự rối loạn của thành phần TG, người ta còn nhận thấy có sự rối loạn của HDL, một loại lipoprotein có lợi, có tính bảo vệ đối với cơ thể. 
Sự liên quan giữa gout và rối loạn lipid máu chính là một phần của hội chứng chuyển hoá bao gồm tăng BMI, béo phì vùng bụng, tăng TG, giảm HDL, tăng huyết áp, tiểu đường, tình trạng đề kháng insulin và nguy cơ bị bệnh mạch vành. Tăng acid uric máu kết hợp với béo phì vùng bụng là nhóm nguy cơ cao của bệnh tim mạch có liên quan đến sự đề kháng insulin.

Tăng huyết áp:
Tăng acid uric máu được phát hiện ở 22 – 38 % bệnh nhân tăng huyết áp không được điều trị. Tỉ lệ bệnh gout trong dân số tăng huyết áp là 2 –12 %. Mặc dù tỉ lệ tăng acid uric máu tăng ở đối tượng tăng huyết áp nhưng không có sự liên quan giữa acid uric máu và trị số huyết áp. Có 25 – 50 % bệnh nhân gout có kèm tăng huyết áp, chủ yếu ở các bệnh nhân béo phì. Nguyên nhân gây nên mối liên hệ giữa bệnh gout và tăng huyết áp hiện nay chưa được biết rõ.

 Xơ mỡ động mạch:
Các nghiên cứu gần đây đã chỉ rõ mối liên quan giữa gout và xơ mỡ động mạch. Tuy vậy tăng acid uric máu không phải là yếu tố nguy cơ trực tiếp của bệnh mạch vành. Tăng huyết áp, tiểu đường, xơ mỡ động mạch liên quan nhiều đến tình trạng béo phì hơn là liên quan đến sự tăng acid uric máu. ở bệnh nhân gout, các yếu tố nguy cơ của bệnh mạch vành như tăng huyết áp, béo phì, đề kháng insulin, tăng TG máu góp phần làm tăng sự liên quan giữa acid uric máu và xơ mỡ động mạch. Các yếu tố nguy cơ này tự nó làm tăng nguy cơ của bệnh tim mạch, và như vậy, acid uric máu chỉ gián tiếp làm tăng nguy cơ đột tử do bệnh tim mạch thông qua việc kết hợp với các bệnh lý có nguy cơ cao nói trên.
Bs  Nguyễn Thu Giang 


Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/cac-benh-ly-di-kem-voi-gout-119.html#ixzz3Lx9oCamZ

Chủ Nhật, 14 tháng 12, 2014

Tăng acid uric chưa hẳn bị bệnh gút

Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hoá, gây ra bởi tình trạng lắng đọng các tinh thể urat ở các mô của cơ thể, do tăng acid uric trong máu.

Gout là một bệnh khớp do rối loạn chuyển hoá, gây ra bởi tình trạng lắng đọng các tinh thể urat ở các mô của cơ thể, do tăng acid uric trong máu. Tuy nhiên không phải bất kỳ ai tăng acid uric máu đều bị bệnh Gout.
Nồng độ acid uric máu tăng không phải nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Gout. Nguồn ảnh: internet


Bình thường lượng acid uric trong máu luôn được giữ ổn định ở nồng độ dưới 7,0 mg/dl (420 micromol/ l) và được giữ ở mức độ hằng định do sự cân bằng giữa quá trình tổng hợp và đào thải chất này. Bất kỳ nguyên nhân nào làm mất cân bằng hai qua trình tổng hợp và đào thải này, chẳng hạn tăng tổng hợp acid uric hoặc giảm thải trừ acid uric đều làm tăng acid uric trong máu. Được coi là tăng acid uric máu khi lượng acid uric trong máu tăng cao hơn giới hạn bình thươờng (tuỳ theo chỉ số của mỗi phòng xét nghiệm, tuổi, giới), thường ở nam là trên 7,0 mg/dl (hay trên 420 micromol/l), ở nữ trên 6,0 mg/l (360 micromol/l).

Hiện nay có một thực tế là rất nhiều người, kể cả các bác sỹ không phải chuyên khoa, cho rằng cứ tăng acid uric máu là bệnh Gout và cho điều trị luôn. Đây là quan niệm sai lầm vì chỉ coi là có bệnh Gout khi tăng acid uric máu đi kèm với sự lắng đọng acid uric và gây tổn thương ở khớp hay những tổ chức khác.

Chẩn đoán bệnh Gout: (hiện nay theo tiêu chuẩn Bennett và Wood 1968)

a) Hoặc tìm thấy tinh thể urat trong dịch khớp hay trong các hạt tô phi.

b) Hoặc tối thiểu có trên 2 trong các tiêu chuẩn sau đây:

- Tiền sử hoặc hiện tại có tối thiểu 2 đợt sưng đau của một khớp với tính chất khởi phát đột ngột, đau dữ dội, và khỏi hoàn toàn trong vòng hai tuần.

- Tiền sử hoặc hiện tại có sưng đau khớp bàn ngón chân cái với các tính chất như trên.

- Có hạt tô phi.

- Đáp ứng tốt với colchicin (giảm viêm và đau trong 48h) trong tiền sử hoặc hiện tại.

Chẩn đoán xác định khi có tiêu chuẩn a hoặc 2 yếu tố của tiêu chuẩn b.
Như vậy ta thấy nồng độ acid uric máu tăng không phải nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh Gout. Thậm chí có bệnh nhân Gout mà xét nghiệm acid uric có thời điểm còn thấp hơn bình thường. Tuy nhiên các nghiên cứu cho thấy tăng acid uric máu là một trong những yếu tố nguy cơ rõ ràng cho sự hình thành bệnh Gout, mặc dù nhiều quan sát thấy rằng nhiều người tăng acid uric máu nhiều năm mà không hề có cơn Gout cấp. Những người này gọi là tình trạng tăng acid uric máu không triệu chứng.

Nguyên nhân tăng acid uric máu:

Vậy câu hỏi đặt ra là nguyên nhân của tình trạng tăng acid uric máu là gì, và khi nào thì phải điều trị tình trạng tăng acid uric máu không triệu chứng.

Về nguyên nhân tăng acid uric máu người ta thấy có một số nguyên nhân chính sau đây:

- Nhóm suy giảm khả năng bài xuất acid uric ở ống thận tiên phát đa nguyên nhân, đặc biệt trong trường hợp ăn nhiều thức ăn chứa nhân purin, nghiện rượu. Loại này thường có tính chất gia đình, khởi phát thươờng do uống quá nhiều rươợu. Đây là nhóm hay gặp nhất (90% các trường hợp).

- Nhóm tăng tạo acid uric nguyên phát (bẩm sinh). Đây là nhóm nguyên nhân hiếm gặp (dưới 1%) do có các bất thường về enzym: thiếu hụt hoàn toàn hoặc một phần enzym hypoxanthine guanine phosphoribosyltransferase (HGPRT), hoặc do tăng hoạt tính của enzym phosphoribosylpyrophosphate (PRPP).

- Nhóm nguyên nhân còn lại (chiếm khoảng 10%) là tình trạng tăng acid uric thứ phát: do tăng sản xuất acid uric do ăn uống nhiều thức ăn có nhân purin (đặc biệt các thịt màu đỏ như chó, bò, dê, cá biển...); uống nhiều rượu; do tăng huỷ tế bào gặp trong bệnh đa u tuỷ xương, thiếu máu tan máu, bệnh bạch cầu (leucemia), dùng hoá chất gây độc tế bào điều trị ung thư; bệnh vẩy nến...Tăng acid uric thứ phát còn do giảm bài tiết acid uric ở thận. Nhóm này có các nguyên nhân như nghiện rượu, suy thận mạn tính, tăng huyết áp, tình trạng nhiễm toan ceton trong đái tháo đường hay nhịn đói lâu ngày, tình trạng nhiễm toan lactic ở người nghiện rượu.

- Một trong nhứng nguyên nhân gây giảm bài tiết acid uric là do sử dụng thuốc. Các thuốc thường gặp là aspirin liều thấp; phenylbutazone liều thấp; đa số các thuốc lợi tiểu dùng kéo dài (trừ nhóm spironolactone) như thiazide, furosemide; thuốc điều trị lao như ethambutol, pyrazinamind; các thuốc acid ethacrynic, acid nicotinic...

Điều trị tăng acid uric máu:

Lợi ích của việc điều trị tình trạng tăng acid uric máu ở những bệnh nhân đã bị cơn Gout là điều đã được chứng minh. Nó góp phần hạn chế, ngừng các cơn Gout cấp tái phát cũng như biến chuyển bệnh thành Gout mạn tính có hạt tophi, sỏi thận- suy thận do Gout. Tuy nhiên trong trường hợp tăng acid uric máu không triệu chứng thì còn nhiều tranh cãi. Có nên điều trị hạ acid uric hay không, điều trị như thế nào. Qua nhiều nghiên cứu cho thấy không có những bằng chứng mạnh mẽ ủng hộ việc dùng thuốc hạ acid uric trong trường hợp này. Ngược lại với lợi ích ít ỏi thu được là việc bệnh nhân phải mất nhiều chi phí cho điều trị cũng như tăng nguy cơ mắc nhiều biến chứng do dùng thuốc.

Trong trường hợp tăng acid uric không triệu chứng nên tuân theo chỉ dẫn sau: chỉ dùng thuốc khi nồng độ acid uric máu quá cao trên 10-12mg/dl (khoảng 700 micromol/l) hoặc khi có sự sản xuất acid uric cấp tính, ví dụ trong điều trị hoá trị liệu trong bệnh ung thư gây huỷ tế bào nhiều. Có thể dùng liệu pháp dự phòng tình trạng tăng acid uric máu ở những trường hợp dự đoán trước là sẽ có tình trạng tăng acid uric nhiều cấp tính như trên. Khi đó lợi ích thu được chủ yếu là tránh được tình trạng suy thận cấp do tăng lắng đọng tinh thể urat ở ống thận. Thuốc lựa chọn hàng đầu trong các trường hợp này là thuốc ức chế xanthine oxidase như allopurinol (Zyloric), tisopurine (Thiopurinol) hoặc thuốc tiêu acid uric (enzym uricase- biệt dược Uricozym).

Các trường hợp xét nghiệm thường xuyên có tình trạng tăng acid uric trên 10 mg/dl mà kháng với các biện pháp điều chỉnh chế độ ăn uống, hoặc có tiền sử gia đình bị Gout, bị sỏi thận kèm tăng acid uric máu, có dấu hiệu tổn thương thận đều cần phải dùng các thuốc giảm acid uric. Lưu ý không dùng thuốc nhóm tăng thải acid uric như probenecid (Benemid) qua thận ở những bệnh nhân có một trong các biểu hiện sau: tiền sử hoặc đang có sỏi thận, suy thận, có hạt tophi và giảm bài tiết urat qua thận.

Tất cả các trường hợp tăng acid uric máu không có triệu chứng khác ở mức độ trung bình (dưới 10mg/dl) đều cần thực hiện các chế độ ăn uống sinh hoạt hợp lý như với các bệnh nhân bị Gout mà chưa cần dùng thuốc hạ acid uric máu.

Tóm lại, nếu như trong thực tế bạn gặp các trường hợp xét nghiệm máu mà có tăng acid uric nhưng không có biểu hiện bệnh Gout trên lâm sàng, bệnh nhân nên đến chuyên khoa cơ xương khớp để có được tư vấn thích hợp.
ThS. BS. Bùi Hải Bình
Khoa Cơ Xương Khớp - Bệnh viện Bạch Mai


Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/benh-gut-khong-han-tang-acid-uric-mau-411.html#ixzz3Lw7WzMTp

Thứ Bảy, 13 tháng 12, 2014

Cách giảm đau nhanh cho bệnh gút

Giảm đau nhanh cho bệnh gút

Chườm đá vào vị trí đau là một trong những cách giảm đau nhanh và hiểu quả khi bị cơn đau gút tấn công.  Một nghiên cứu mới đây của Mỹ cho thấy, việc dùng những túi đá để chườm tại các khớp bị viêm do bệnh gút sẽ làm giảm đáng kể triệu chứng đau của người bệnh.

Chườm đá giảm đau cho bênh gút
Chườm đá giảm đau cho bênh gút
Các bác sĩ tại Đại học Y New Jersey đã chọn ra 19 bệnh nhân bị viêm khớp cấp do gút (giai đoạn đầu của bệnh gút, khi mới xuất hiện những biểu hiện đầu tiên). Tất cả họ đều được dùng thuốc chống gút đặc hiệu là colchicine và thuốc chống viêm prednisone. Ngoài ra, 10 người trong số này còn được chườm túi lạnh ở vùng khớp bị đau trong 30 phút, 4 lần mỗi ngày. Bệnh nhân được theo dõi trong vòng 1 tuần.
Kết quả cho thấy, ở nhóm được chườm lạnh, dấu hiệu đau giảm đáng kể; chứng phù nề, ứ nước cũng giảm ít nhiều. Ngoài ra, người bệnh ít bị các cơn gút nặng so với những người ở nhóm không chườm lạnh.
Tuy kết quả thu được rất khả quan, nhưng theo các tác giả, quy mô của nghiên cứu còn nhỏ nên chưa rõ ngoài giảm đau, liệu pháp này có đem lại tác dụng gì khác hay không, và liệu điều này có còn đúng khi kết hợp chườm lạnh với các thuốc khác. Nghiên cứu đăng trên Tạp chí Chuyên ngành Khớp số tháng 2 của Mỹ
Source ehow.com

Thứ Hai, 8 tháng 12, 2014

Tiểu chuẩn xác định bênh gút

12 Tiêu chuẩn chấn đoán xác định bệnh gút

Gút bệnh chuyển hoá đặc trưng bằng những đợt viêm khớp cấp tái phát và lắng đọng urat trong các mô, gây ra do tăng acid uric máu (Guideline Hội TKH Việt Nam – 2011)

CHẨN ĐOÁN BỆNH GÚT


Chẩn đoán xác định: Tiêu chuẩn của ILAR và Omeract 2000:

- Có tinh thể urate trong dịch khớp,và/ hoặc:
- Có hạt tophi chứa tinh thể urate bằng phương pháp hoá học hoặc kính hiển vi phân cực, và/ hoặc:

Có 6 trong 12 biểu hiện lâm sàng, xét nghiệm, X-Quang như sau:

  • Viêm khớp diễn biến trong 1 ngày.
  • Có nhiều hơn 1 cơn viêm khớp cấp.
  • Viêm ở 1 khớp Có đỏ vùng khớp Sưng đau khớp bàn– ngón chân 1 Viêm ở 1 bên Viêm khớp cổ chân 1 bên
  • Nhìn thấy tophi
  • Tăng axít uric máu
  • Viêm khớp không đối xứng
  • X-Quang khớp viêm: có nang (cyst) dưới vỏ xương, không có hình khuyết xương (erosion)
  • Cấy dịch khớp: Không có vi khuẩn.

Hình ảnh
Hình ảnh: Tinh thể urate sau khi chọc dịch soi dưới kính hiển vi phân cực
Hình ảnh: Tinh thể urate sau khi chọc dịch soi dưới kính hiển vi phân cực
HÌnh ảnh: X-quang  một số ổ khuyết xương ở cổ  chân trái và bàn chân 2 bên.
HÌnh ảnh: X-quang một số ổ khuyết xương ở cổ chân trái và bàn chân 2 bên.

Nguyên nhân gây bệnh gút

Gout là một bệnh rối loạn về chuyển hóa lien quan đến việc tăng sản xuất hoặc giảm đào thải chất acid uric trong cơ thể. Có thể nói nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gout là acid uric , một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của purin. Ở người bình thường , lượng acid uric trong máu được duy trì ở mức cố định: 5mg% ở nam và 4mg% ở nữ, tùy độ tuổi và có sự thay đổi. Để mức acid uric cân bằng hàng ngày , acid uric được thải ra ngoài chủ yếu theo đường thận qua nước tiểu và một phần qua phân và các đường khác.
Một lý do nào đó, hàm lượng purin trong cơ thể tăng, quá trình chuyển hóa chúng thành acid uric tăng. Khi cơ thể tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu qá ít thì nồng độ acid uric trong máu tăng lên, sự chuyển hóa acid uric thành muối urat tăng theo dẫn tới sự lắng động những tinh thể muối urat sắt nhọn hình kim tại các khớp, sụn, xương, tổ chức dưới da, gây ra viêm sung khớp và biểu hiện triệu chứng tại những vị trí lắng động.