Thứ Sáu, 28 tháng 8, 2015

Bệnh quai bị là gì ?

Bệnh quai bị là một bệnh lý toàn thân, cấp tính do siêu vi gây ra và dễ lây lan. Bệnh đặc trưng bởi sưng, đau tuyến nước bọt, đôi khi kèm theo viêm tuyến sinh dục, viêm tụy tạng và một số cơ quan khác.

Bệnh thường diễn tiến nhẹ và tự khỏi. Ngoài viêm tuyến nước bọt điển hình,viêm tinh hoàn là biểu hiện thường gặp của quai bị ở nam giới, lứa tuổi thanh thiếu niên từ dậy thì, hiếm gặp ở những trẻ em chưa dậy thì và trên 50 tuổi. Tỷ lệ quai bị có biểu hiện viêm tinh hoàn có thể từ 20 – 35%. Viêm tinh hoàn thường xảy ra sau khi viêm tuyến mang tai khoảng vài ngày. Khi bị viêm, tinh hoàn đau và sưng to, thường kèm với sốt. Viêm tinh hoàn chẳng những gây đau đớn, kéo dài thời gian điều trị mà còn gây ra những vấn đề sau đây: Thiểu năng sinh dục  hoặc có thể gây vô sinh ở những bệnh nhân bị viêm teo cả hai tinh hoàn.
Quai bị là một bệnh nhiễm virus của các tuyến nước bọt, nhất là tuyến mang tai chạy dọc theo góc hàm ở phía trước và bên dưới mỗi tai. Nó thường xuất hiện trong các trường hợp cá nhân rải rác, mặc dù có dịch bệnh địa phương thường xuyên ở trẻ em. Vậy bạn đã biết gì về bệnh quai bị?
Bệnh Quai bị hình ảnh tìm thuốc nhanh
Nguy cơ mắc bệnh
Bệnh quai bị thường bị mắc vào tháng Ba giữa mùa xuân, hoặc mùa hè. Nó ít lây nhiễm hơn so với bệnh thủy đậu hoặc sởi. Những đứa trẻ trong độ tuổi từ 5 đến 10 tuổi có khả năng mắc bệnh quai bị cao hơn, người lớn chưa tiêm phòng có nguy cơ cao hơn trong việc gặp nhiều biến chứng hơn là trẻ em nhưng hiếm khi gây ra vấn đề nghiêm trọng.
Nguyên nhân gây bệnh quai bị
– Bệnh quai bị gây ra bởi một sinh vật gọi là paramyxovirus. Nó truyền qua miệng của bạn từ nước bọt trong các cuộc nói chuyện, hắt hơi, ăn uống, hôn nhau, hoặc ho.
– Quai bị có thể lây nhiễm trong khoảng một tuần trước khi các tuyến sưng lên, và khoảng 9 ngày sau đó. Quai bị là phổ biến đối với các bệnh virus nhất.
Triệu chứng bệnh quai bị
Một phần ba số người nhiễm virut gây ra bệnh quai bị mà cảm thấy không có triệu chứng. Những người khác có sốt nhẹ, nhức đầu, suy nhược, mệt mỏi, và mất cảm giác ngon miệng bắt đầu từ 14 đến 24 ngày sau khi họ bị nhiễm thực sự. Khoảng một ngày sau khi khởi phát sốt, các tuyến mang tai gần tai bắt đầu sưng lên và đau – điều này làm cho việc nhai và nuốt đau đớn. Nhiệt độ của cơ thể tăng lên đến 39,5 ° C đến 40 ° C .
Sưng và đau tồi tệ hơn trong 3 ngày tiếp theo và có thể mở rộng về phía trước của hàm và, đối với một số người sẽ xuống cổ, phụ thuộc vào tuyến nước bọt khác có liên quan. Trong phần lớn các trường hợp bệnh quai bị, cả hai tuyến mang tai bên phải và bên trái bị sưng. Cơn sốt thường kéo dài chỉ 1-3 ngày nhưng có thể kéo dài trong một tuần. Sưng các tuyến sẽ tan sau khoảng một tuần.
Biến chứng bệnh quai bị
  •  Viêm tinh hoàn, nhiễm trùng tinh hoàn.
  • Viêm buồng trứng, nhiễm trùng buồng trứng.
  •  Ngoài ra, bệnh quai bị có thể gây ra biến chứng nặng nề như viêm não, viêm màng não.
Hiện nay có vacxin tiêm phòng chống bệnh quai bị, các bậc phụ huynh nên cho con em mình đi tiêm phòng ngày từ lúc trẻ còn nhỏ để tránh được bệnh và những biến chứng của bệnh sau này. Trên đây là vài thông tin mà chúng tôi muốn cung cấp cho mọi người giúp mọi người tìm hiểu về bệnh quai bị rõ hơn, mong rằng những kiến thức trên sẽ giúp ích cho các bạn.
info timthuocnhanh tổng hợp

Thứ Năm, 27 tháng 8, 2015

Tác dụng của chất xơ

Tại Sao Chúng Ta Cần Chất Xơ?
Chất xơ giúp:
  • Giữ hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh và ngăn ngừa bón bằng cách làm cho phân nhiều và mềm.
  • Hạ chất mỡ và chất tri-gly-ce-ride trong máu.
  • Hạ thấp nguy cơ ung thư kết tràng, bệnh tim và những vấn đề về tiêu hóa như bệnh chi nang ruột non

(tình trạng xảy ra khi những túi nhỏ gọi là chi nang đùn ra ngoài qua những chỗ yếu của kết tràng)
  • Cải thiện mức đường trong máu của những người mang bệnh tiểu đường.
  • Kiểm soát lên cân bằng cách làm cho quý vị cảm thấy no nên sẽ ăn ít đi.
Chúng ta cần bao nhiêu chất xơ?
Phụ nữ, thanh nữ và trẻ em trên 4 tuổi nên nhắm vào số lượng chất xơ cho mỗi ngày là 25g1. Nam giới và thanh niên thì nên nhắm vào số lượng là 38g mỗi ngày.
Hầu hết dân Gia-Nã-Đại chỉ ăn được khoảng phân nữa số lượng được đề nghị. Tuy nhiên việc này có thể
được cải thiện bằng cách ăn thêm các thực phẩm như sản phẩm hạt nguyên chất, các loại đậu khô, rau cải và trái cây.
1Theo tài liệu: Tham Khảo Thu Nhập Dinh Dưỡng Tạo Năng Lượng, Car-bo-hy-drate, Chất Xơ, Chất Béo, Chất Đạm và Chất A-xít A-mi-no. (Đa Dinh Dưỡng) 2002.
Tất Cả Các Chất Xơ Có Giống Nhau Không ?
Không. Có hai loại chất xơ chính, loại hòa tan và loại không hòa tan. Hầu hết những thực phẩm có chứa chất xơ đều có chứa cả hai loại trên:
Chất xơ hòa tan là loại chất xơ mềm và hoà tan trong nước, giúp cơ thể hạ mức mỡ trong máu và kiểm soát đường huyết. Nguồn chất xơ hòa tan trong nước tốt nhất là cám yến mạch, cháo yến mạch, các loại đậu khô như đậu Hà Lan khô, đậu và đậu lăng, táo, dâu đỏ, các trái cây họ cam quýt bưởi và lúa mạch.
Chất xơ không tan thì không tan trong nước, giúp ngăn ngừa táo bón, giữ hệ thống tiêu hóa khỏe mạnh và giảm nguy cơ một số bệnh ung thư. Nguồn thực phẩm giàu chất xơ không hòa tan là bánh mì nguyên hạt, rau cải, trái cây, các loại đậu khô ví dụ như đậu Hà Lan khô, đậu và đậu lăng.
Hãy đọc các nhãn thực phẩm và tìm những chỉ số dinh dưỡng sau đây:
Thực phẩm có mức xơ thật cao thường hay chứa ít nhất là 6 gram chất xơ trong một phần lượng
Thực phẩm có mức xơ cao thì có ít nhất là 4 gram chất xơ trong một phần lượng.
Thực phẩm có chất xơ thì chứa ít nhất là 2 gram chất xơ trong một phần lượng.
Những Thực Phẩm Nào Có Nhiều Chất Xơ?(What are the high fibre foods?)
Một số thực phẩm chứa hơn 6 gram chất xơ trong một nữa chén (125mL) phần lượng là:
đậu hầm trong lò
đậu lăng nấu chín
đậu quả thận nấu chín
đậu đen nấu chín
100% Bran (ngũ cốc cám) Fibre One (ngũ cốc)
All Bran (ngũ cốc)
All Bran Buds (ngũ cốc)
Một số thực phẩm chứa hơn 4 gram chất xơ trong một nữa chén (125mL) phần lượng là:
Trái lê có vỏ (1 trái cỡ vừa)
khoai tây nướng còn vỏ (1 củ vừa)
cốm cám (bran flakes)
quả mâm xôi (raspberries)
Một số thực phẩm chứa hơn 2 gram chất xơ trong một nữa (125mL) chén phần lượng:
Lúa mạch nấu chín
Cốm hiệu Red River (ngũ cốc) cốm hiệu Shredded Wheat ngũ cốc hiệu Raisin Bran
Bánh mì nguyên chất hạt (1 lát)
Khoai lang có vỏ
Táo có vỏ (trái cỡ vừa) chuối (1 trái cỡ vừa) cam (1 trái cỡ vừa) đào (1 tái cỡ vừa)
Bắp trái
Rau dền tây nấu chín
Củ cần nấu chín (parsnip) bông cải xanh nấu chín đậu Hà Lan nấu chín
Đậu Hà Lan cà dâu đỏ
Nho khô
Chà là hoặc quả vả/sung (3)
Tấm lúa mì (bulgur) nấu chín
Bổ túc theo Tài Liệu Dinh Dưỡng Gia-Nã-Đại 2007 – Bộ Y Tế Gia-Nã-Đại
Làm thế nào để tăng chất xơ trong chế độ ăn uống của quý vị?
  • Chọn lựa các loại bánh mì, ngũ cốc và bánh lạt giòn làm từ hạt nguyên chất, nuôi mì nguyên chất hạt, tấm lúa mì (bulgur), hạt Quinoa và gạo nâu
  • Mỗi ngày ăn cốm ngũ cốc có nhiều chất xơ, ăn một thứ hoặc ăn chung với loại cốm ngũ cốc mà quý vị ưa thích
  • Cho thêm mầm cám hoặc mầm lúa mì vào trong thịt ham-bơ-gơ, hỗn hợp áo thực phẩm, trong thực phẩm hầm nhừ, trong bánh ngọt, các loại cốm ngũ cốc.
  • Thay thế phân nữa lượng bột làm bánh bằng bột mì nguyên chất hạt (whole wheat) hoặc bột yến mạch (oat flour)
  • Thêm nho khô, chuối hoặc dâu đỏ vào trong cốm ngũ cốc
  • Thêm trái cây vào trong bánh nướng muf-fin và bánh ngọt coo-ki
  • Mỗi bữa ăn chính hoặc ăn vặt (snack) nên lựa rau quả trái cây. Một phần lượng theo Bảng Hướng Dẫn Thực Phẩm là ½ chén (125mL) hoặc nguyên phần rau cải hoặc trái cây. Ăn luôn cả da hoặc vỏ nếu có thể được.
  • Dùng một ít quả mận hoặc nuớc mận (prune juice) bởi vì chúng có chứa chất nhuận trường tự nhiên.
Không nên dùng thường xuyên hoặc với liều lượng lớn vì chúng có thể làm sổ ruột
  • Ăn thêm các loại đậu khô nấu chín ví dụ như đậu Hà Lan, đậu khô, đậu lăng.
  • Thêm đậu quả thận, đậu gà và đậu lăng vào trong thực phẩm hầm nhừ, rau cải trộn và sốt ăn với nui
Ý.
  • Cho thêm rau cải vào trong thực phẩm hầm nhừ, để trên bánh pi-za hoặc trong rau cải trộn. Thêm cà- rốt, ớt Đà lạt, bông cải xanh, rau dền tây, bắp hoặc đậu Hà Lan vào trong các công thức nấu ăn của quý vị.
  • Hãy thường xuyên thưởng thức các loại rau cải xào.
  • Thêm từ 1 – 2 muỗng súp (15 -30 mL) hạt lanh xay nhuyễn (flaxseed) vào cốm ngũ cốc (cereal), sốt táo xay, chè đặc (pudding) hoặc trong nước trái cây.
Các hướng dẫn về thuốc bổ có chất xơ và chất nhuận trường?
  • Những nguồn chất xơ đậm đặc như Metamucil hoặc Prodiem lạt đều an toàn để dùng đều đặn. Bắt
đầu với phân nữa hoặc ¼ liều và sau đó tăng dần. Uống thật nhiều chất nước.
  • Không nên sử dụng lâu dài những chất nhuận trường bán ngoài thị trường. Một số có thể làm hư hại ruột.
  • Nên đi khám bác sĩ nếu quý vị bị táo bón hoặc nếu quý vị nhận thấy dạng phân bị thay đổi.
Nên nhớ:
  • Tăng từ từ chất xơ trong cách ăn uống của quý vị. Ăn chất xơ thường xuyên làm giảm đầy hơi và phình bụng.
  • Mỗi ngày uống ít nhất từ sáu đến tám tách (2L) các loại chất nuớc như nước, nước trái cây, sữa hoặc canh. Chất xơ thường hay giữ nước và làm cho phân mềm.
  • Ăn các bữa chính và phụ (snack) đều đặn để cho thực phẩm luôn di chuyển qua ruột
  • Xác lập một thông lệ và dành đủ thời gian để đi cầu.
  • Tập thể dục – vận động thân thể phát huy chức năng của ruột.

Thứ Sáu, 21 tháng 8, 2015

Thay đổi quan điểm về bệnh gút

Tìm hiểu bênh goutTrước đây người Việt Nam chỉ ăn nhiều cơm rau, ít thịt cá (chính chế độ dinh dưỡng như vậy lại là rất hợp lý), nhưng hiện nay, chúng ta có điều kiện để chọn thực phẩm chứa nhiều năng lượng hơn dưới dạng gluxit, prôtit... Sự dư thừa năng lượng dạng này khiến những bệnh "no đủ" như bệnh gút ngày càng trở nên phổ biến.

Bệnh gút (tiếng Anh: gout; tiếng Pháp: goutte hay podagre; tiếng Đức: gicht) đã được biết đến từ lâu ở châu Âu. Ngay ở Trung Quốc, bệnh này cũng được biết đến với cái tên thống phong . Còn ở châu Á, nhất là Việt Nam chúng ta, không có thói quen ăn nhiều thịt như châu Âu nên bệnh này không phổ biến, nên cũng ít người biết đến nó chăng? Trong khi đó, ngay từ thế kỷ 17, ở Đức đã xuất bản một cuốn sách của D.P. Mertz (nay đã được tái bản và bổ sung đến lần thứ 6) viết về bệnh gút.

Đặc trưng của bệnh gút

Bệnh gút có hai dạng đặc trưng: cấp tính và mãn tính. Ở dạng cấp tính, người bệnh đột ngột nhận thấy cơn đau ghê gớm ở khớp, đặc trưng nhất là khớp ngón chân cái, nhưng cũng có thể ở các chi khác, hay các khớp khác: đầu gối, chân, tay, thậm chí vai hay cổ.

Bệnh gút hình thành do một sự rối loạn về chuyển hóa chất, nguyên nhân là nồng độ axít uric quá cao trong máu và các chất dịch khác trong cơ thể. Xét về nguyên nhân, bệnh gút hoàn toàn tương tự với bệnh tiểu đường. Nguyên nhân gây hyperuricaemia (tăng axít uric huyết) là do thận gia tăng tạo thành axít uric hay giảm quá trình thải nó. Khi nồng độ axít uric trong các dịch cơ thể vượt quá một trị số nhất định, các tinh thể axít uric sẽ được tạo thành ở các khớp, gây ra viêm khớp cấp tính (đau đớn cực độ) và về lâu về dài gây ra tổn thương mãn tính vì các tinh thể axít uric còn tập trung lại ở các sụn, khớp và xương, ở các hoạt dịch nang, gân, mô liên kết và thận. Hậu quả của việc tạo thành tinh thể axít uric là gút cấp tính ở khớp và sỏi thận gút.

Nam giới ở tuổi trưởng thành dễ mắc bệnh gút, đặc biệt tuổi càng cao càng dễ mắc hơn: 3% nam giới trên 65 tuổi mắc bệnh gút. Phụ nữ chỉ sau khi mãn kinh mới bắt đầu có thể mắc bệnh và tỷ lệ không đáng kể so với nam: 5% vậy có thể nói đó là bệnh của nam giới.

Bệnh thường mang tính di truyền, nếu trong nhà có người bị thì đàn ông nên chú ý ngay. Nên phân biệt giữa dạng tăng axít uric huyết nguyên phát và thứ phát. Thứ phát là do các bệnh khác gây ra, chẳng hạn bởi các bệnh về đường huyết hay thận, còn nguyên phát là do sai sót di truyền về chuyển hóa chất.

Cũng nên lưu ý rằng thời điểm phát sinh và mức độ bộc lộ bệnh gút phụ thuộc chủ yếu vào chế độ ăn uống. Cả tăng axít uric huyết nguyên phát và thứ phát đều dẫn tới gút.

Trước khi xuất hiện các triệu chứng của bệnh gút thì từ nhiều năm trước đã có gia tăng rõ rệt nồng độ axít uric trong máu.

Trong giai đoạn đầu này của bệnh gút, bệnh nhân chưa có cảm giác đau đớn gì, tuy nhiên đã có nhiều tinh thể axít uric kết tinh trong các mô và dẫn tới những sự hủy hoại sớm trong cơ thể (khớp và xương, thận...). Tuy nhiên trong phần lớn trường hợp, dấu hiệu đầu tiên vẫn là viêm cấp tính ở một khớp và gây đau đớn vô cùng. Nhưng khi cơn đau gút cấp tính này đi qua (sau một vài ngày), khớp lại hoạt động bình thường và chịu được tải trọng, tuy nhiên sau vài lần đau cùng ở một khớp và với thời gian, khớp đó sẽ hỏng, khi đó sẽ là bệnh gút khớp mãn tính.

Sự kết tinh axít uric ở xương làm giảm chức năng đệm đỡ của xương và gây biến dạng xương, được gọi là tophi (nổi u mụn). Kết tinh axít uric ở trong mô dưới da gọi là tophi da, mà dạng đặc biệt là ở vành tai. Lâu dài dẫn tới việc tinh thể axít uric đâm qua da và dẫn tới u gút.

Kết tinh axít uric trong thận dẫn tới viêm thận mãn tính, còn gọi là gút thận, hậu quả thường là cao huyết áp dẫn tới xơ cứng động mạch. Sỏi thận bởi tinh thể axít uric gây cơn đau thận dữ dội, gây ra nhiễm trùng niệu đạo. Nếu một viên sỏi chặn đường niệu đạo, nước tiểu không thoát đi được gây hỏng thận. Những cơn đau thận bởi sỏi thận cũng báo hiệu cơn đau gút cấp tính.

Nếu bệnh nhân gút không được điều trị sớm, tỷ lệ dẫn tới nhồi máu cơ tim ở nhóm này cao hơn nhóm người thường rất nhiều. Cơn đau gút và cơn đau thận gây nhiều đau đớn cho bệnh nhân, đồng thời những hậu quả ẩn của sự gia tăng nồng độ axít uric trong dịch cơ thể còn nguy hiểm hơn nhiều bởi chúng gây ra sự biến dạng xương mãn tính, gút thận và dẫn tới xơ cứng động mạch.

Các bệnh nhân béo phì, tiểu đường hay bị bệnh trao đổi mỡ cũng dễ bị tăng nồng độ axít uric huyết và có nguy cơ mắc bệnh gút. Nguyên nhân của bệnh gút nguyên phát là do sai lệch trao đổi chất bẩm sinh, hậu quả của sai lệch này càng được khuếch đại bởi chế độ dinh dưỡng sai, đặc biệt là ăn quá nhiều chất có purin và uống rượu.

Cơn đau gút cấp tính thường xuất hiện sau bữa tiệc rượu, nhưng có khi xuất hiện ngay cả khi ăn kiêng hoàn toàn. Làm việc quá sức, tai nạn, mổ xẻ gây nguy cơ cơn gút cấp tính. Uống quá ít nước, đặc biệt vào mùa hè ra nhiều mồ hôi, gây gia tăng nồng độ axít uric, nguy cơ kết tủa tinh thể axít uric và gút thận, sỏi thận. Vậy người bị bệnh gút nhất thiết phải uống nhiều nước (khoảng 2 lít/ngày).

Axít uric thuộc nhóm các chất có chứa nhân purin, đó là những hợp chất hai vòng chứa carbon và nitơ. Chất purin đơn giản nhất có công thức C5H4N4 còn chất purin thường gặp nhất trong cơ thể sống là adeninvà guanin. Các purin là nhân cơ bản cho các tế bào của người, động và thực vật. Khi các tế bào cũ trong cơ thể liên tục chết đi và thay bằng tế bào mới, các purin được giải phóng thành axít uric. Ở người, axít uric là sản phẩm cuối cùng của quá trình trao đổi chất, được thận thải ra trong nước tiểu.

Axít uric tạo bởi purin có sẵn trong cơ thể, còn gọi là nội sinh, đạt lượng 300-400mg/ngày. Thêm vào đó, khi ăn thêm các tế bào động và thực vật chứa trong thực phẩm tức là thêm một lượng purin, cơ thể còn tạo thêm một lượng axít uric nữa, gọi là ngoại sinh. Cả axít uric nội lẫn ngoại sinh đều sẽ được thận thải ra ngoài, lượng nội sinh tương đối ổn định, nhưng lượng ngoại sinh sẽ do chế độ ăn uống chi phối.

Nồng độ axít uric trong dịch cơ thể đơn giản và dễ lấy nhất là máu, ở người khỏe mạnh là dưới 6,5mg/100ml. Nếu ở người khỏe, do ăn nhiều chất chứa purin, lượng axít uric ngoại sinh là lớn hơn thì sẽ bị cơ thể người khỏe thải ra ngoài mà không gây nguy hại tới việc hình thành bệnh gút. Nhưng ở người có xu hướng bị bệnh gút nguyên phát, khả năng thận thải axít uric ra ngoài đã bị suy giảm.

Như vậy, với sự tạo thêm axít uric ngoại sinh (hãn hữu cũng có khi do axít uric nội sinh), nồng độ axít uric trong dịch cơ thể gia tăng. Hậu quả là kết tinh axít uric trong mô, khớp và nước tiểu. Lượng axít uric kết tủa này trong cơ thể người bị bệnh gút cao hơn lượng axít uric trong cơ thế người khỏe nhiều.

Chế độ dinh dưỡng với người bệnh

- Tránh những thực phẩm giàu purin như nội tạng động vật (tim, gan, bầu dục, lòng...) hay hải sản. Ngoài ra nên ăn bù prôtít bằng các sản phẩm của sữa. Chú ý là các loại rau quả như đậu, măng tây, rau cải bó xôi... cũng chứa nhiều purin chẳng kém thịt.

- Tránh uống rượu bởi rượu làm gia tăng dự tạo axidt uric trong gan và ngăn cản thận thải axít uric.

- Tránh ăn cho đến khi đạt thể trọng lý tưởng: Khi ăn nên thay số lượng bằng chất lượng. Giảm trọng không chỉ giảm lượng axít uric mà nói chung cũng tác động tốt đến cơ thể. Nhưng trái lại không được giảm trọng đột ngột, nhất là nhịn ăn vì khi đó cũng ngăn cản thận thải axít uric.

Nguyên tắc quan trọng nhất ở đây là không phải cấm ăn thịt cũng như uống rượu mà phải điều độ. Tránh ăn nhiều quá hoặc nhịn đói, cũng như phải uống nhiều nước. Chẳng hạn một miếng thịt 200g đã chứa 300mg axít uric, đó là lượng axít uric mà một người bị bệnh gút cả ngày được tiếp nhận. Vậy bữa thịt đó, anh ta chỉ được ăn 100g mà thôi, vì các loại rau quả ăn kèm cũng chứa axlt uric.

Một số điều cần lưu ý:

- Cà-phê, chè, ca-cao và sôcôla không hề bị cấm vì các loại purin chứa trong đó không bị chuyển thành axít uric, tuy nhiên nên lưu ý rằng sôcôla rất dễ gây béo vì chứa nhiều năng lượng.

- Giữa "thịt trắng" và "thịt đỏ" không có khác biệt đáng kể về lượng purin.

- Ngoài lượng cồn có hại ra, bia còn chứa những loại purin chuyển thành axít uric nên người bị bệnh gút chỉ được uống hãn hữu.

- Fructose trong đường có thể gia tăng lượng axít uric trong cơ thể, nhưng dùng đường lượng nhỏ là được.

- Ăn chậm và trước khi ăn uống một cốc đầy nước!

- Hằng ngày cố gắng giữ mức ăn ở 1.000 kcal, chỉ có như vậy mới giảm cân được, hàng tuần nên cân để kiểm tra!

- Khi đang điều trị mà vẫn lên cơn đau gút, bệnh nhân nhất thiết phải ăn ít đi, phải uống nhiều nước, tốt nhất là nước khoáng, chè và nước quả. Đặc biệt trước khi đi ngủ phải uống đủ nước.



Thứ Ba, 11 tháng 8, 2015

Bệnh tăng huyết áp

Tỷ lệ mắc bệnh tăng huyết áp (THA) ngày càng tăng trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng. Năm 1960, tỷ lệ này là 1% dân số ở miền Bắc Việt Nam, năm 1992 là 11,79% dân số của cả nước và đến năm 2008 đã lên đến 27,2% dân số ở người trưởng thành > 25 tuổi của nước ta. Nếu bệnh nhân bị bệnh THA không được phát hiện và điều trị tốt sẽ có thể bị tàn phế hoặc tử vong. Mặt khác nếu bệnh nhân được phát hiện bị bệnh này thì phải được theo dõi và điều trị suốt đời để phòng tránh các biến chứng của bệnh gây ra, như vậy sẽ rất tốn kém về tiền của cũng như thời gian và công sức của bệnh nhân, gia đình và xã hội. Vì vậy cách tốt nhất là mỗi người hãy cố gắng phòng bệnh THA.

BENH TANG HUYET AP
Cần hạn chế ăn mặn, ăn mỡ, phủ tạng động vật để giảm nguy cơ tăng huyết áp.
Hiện nay Y học mới chứng minh có khoảng 5% bệnh nhân bị THA là có nguyên nhân để điều trị triệt để, còn khoảng 95% bệnh nhân bị THA còn lại là không có nguyên nhân nên được gọi là bệnh THA (hay THA tiên phát) nhưng đồng thời y học cũng chứng minh có một số yếu tố nguy cơ gây nên bệnh THA. Vì vậy để phòng bệnh THA, mỗi người nên cố gắng hạn chế tối đa các yếu tố nguy cơ gây bệnh THA sẽ được đề cập dưới đây:
Hút thuốc lá, thuốc lào: Trong thuốc lá, thuốc lào có nhiều chất kích thích đặc biệt có chất nicotin kích thích hệ thần kinh giao cảm làm co mạch và gây tăng huyết áp, nhiều nghiên cứu cho thấy hút một điếu thuốc lá có thể làm tăng huyết áp tâm thu lên tới 11mmHg và huyết áp tâm trương lên 9mmHg và kéo dài trong 20-30 phút. Vì vậy nếu không hút thuốc lá cũng là biện pháp phòng bệnh THA.
Tiểu đường: Ở người bị tiểu đường, tỷ lệ bệnh nhân bị THA cao gấp đôi so với người không bị tiểu đường. Khi có cả THA và tiểu đường sẽ làm tăng gấp đôi biến chứng mạch máu lớn và nhỏ, làm tăng gấp đôi nguy cơ tử vong so với bệnh nhân THA đơn thuần. Vì vậy, nếu bị bệnh tiểu đường cần điều trị tốt bệnh này sẽ góp phần khống chế được bệnh THA kèm theo.
Rối loạn lipid máu: Cholesterol và triglycerid máu là các thành phần chất béo ở trong máu. Chúng thường được gọi là các thành phần mỡ của máu hay chính xác hơn là lipid máu. Nồng độ cholesterol máu cao là nguyên nhân chủ yếu của quá trình xơ vữa động mạch và dần dần làm hẹp lòng các động mạch cung cấp máu cho tim và các cơ quan khác trong cơ thể. Động mạch bị xơ vữa sẽ kém đàn hồi và cũng  chính  là  yếu  tố  gây  THA.  Cholesterol toàn  phần  bao  gồm  nhiều  dạng cholesterol trong đó được nghiên cứu nhiều nhất là cholesterol trọng lượng phân tử cao (HDL-C) và cholesterol trọng lượng phân tử thấp (LDL-C). Nồng độ LDL-C trên 3,0mmol/dl là yếu tố nguy cơ của bệnh tim mạch. Ngược lại, HDL-C được xem là có vai trò bảo vệ. Hàm lượng HDL-C trong máu cao thì nguy cơ mắc bệnh tim mạch thấp (tối thiểu cũng phải cao hơn 1,0mmol/dl). Vì vậy cần ăn chế độ giảm lipid máu sẽ giúp phòng bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Chú ý trong khẩu phần ăn hàng ngày, không nên ăn: mỡ, mực và phủ tạng động vật. Nên ăn nhiều rau và hoa quả tươi. Chú ý ăn cá tươi (ít nhất 2 lần/tuần) vì có nhiều tác dụng tốt đối với bệnh tim mạch.
Tiền sử gia đình có người bị THA: Theo thống kê của nhiều tác giả cho thấy bệnh THA có thể có yếu tố di truyền. Trong gia đình nếu ông, bà, cha, mẹ bị bệnh THA thì con cái có nguy cơ mắc bệnh này nhiều hơn. Vì vậy, những người mà tiền sử gia đình có người thân bị THA  càng cần phải cố gắng loại bỏ các yếu tố nguy cơ mà chúng tôi đã trình bày trong bài này. Như vậy mới có thể phòng tránh được bệnh THA.
Tuổi cao: Tuổi càng cao thì tỷ lệ tăng huyết áp càng nhiều, do thành động mạch bị lão hóa và xơ vữa làm giảm tính đàn hồi và trở nên cứng hơn vì thế làm cho huyết áp tâm thu tăng cao hơn còn gọi là THA tâm thu đơn thuần. Để phòng bệnh THA thì mỗi người cần có một lối sống lành mạnh: Làm việc khoa học; nghỉ ngơi hợp lý; ăn uống điều độ, hạn chế dùng nhiều chất béo, hạn chế dùng nhiều chất kích thích như rượu - bia - cà phê- thuốc lá; tập thể dục thường xuyên... có như vậy mới làm chậm quá trình lão hóa và gián tiếp phòng bệnh THA
Thừa cân, béo phì: Cân nặng có quan hệ khá tương đồng với bệnh THA, người béo phì hay người tăng cân theo tuổi cũng làm tăng nhanh huyết áp vì vậy chế độ làm việc, ăn uống hợp lý và luyện tập thể dục thể thao thường xuyên sẽ tránh dư thừa trọng lượng cơ thể, đồng thời cũng cũng là biện pháp rất quan trọng để giảm nguy cơ gây THA, nhất là ở những người cao tuổi.
 Ăn mặn: Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy chế độ ăn nhiều muối (natri chlorua) thì tần suất mắc bệnh THA tăng cao rõ rệt. Người dân ở vùng biển có tỷ lệ mắc bệnh THA cao hơn nhiều so với những người ở đồng bằng và miền núi. Nhiều  bệnh nhân THA ở mức độ nhẹ chỉ cần ăn chế độ giảm muối là có thể điều trị được bệnh. Chế  độ ăn giảm muối là một biện pháp quan trọng để điều trị  cũng như phòng bệnh THA. 
Uống nhiều bia, rượu: Uống rượu, bia quá mức  cũng là yếu tố nguy cơ gây bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng. Đối với những người phải dùng thuốc để điều trị THA thì  uống rượu, bia  quá mức hoặc nghiện rượu sẽ làm mất tác dụng của thuốc hạ áp như vậy làm cho bệnh càng nặng hơn. Ngoài ra, uống rượu, bia quá mức còn gây bệnh xơ gan và các tổn thương thần kinh nặng nề khác từ đó gián tiếp gây THA.Vì vậy, không nên uống quá nhiều rượu, bia để phòng bệnh THA. Hàng ngày, mỗi người có thể uống khoảng 30ml rượu mạnh hoặc 50ml rượu vang hoặc 300ml bia. Nếu uống nhiều hơn sẽ là yếu tố nguy cơ mắc nhiều bệnh nói chung và bệnh THA nói riêng.
Ít vận động thể lực (lối sống tĩnh tại): Lối sống tĩnh tại cũng được coi là một nguy cơ của bệnh THA. Việc vận động hằng ngày đều đặn từ 30 đến 45 phút mang lại lợi ích rõ rệt trong giảm nguy cơ bệnh tim mạch nói chung và bệnh THA nói riêng.
Có nhiều stress (căng thẳng, lo âu quá mức): Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng căng thẳng thần kinh, stress làm tăng nhịp tim.Dưới tác dụng của các chất trung gian hóa học là Adrenalin, noradrenalin làm động mạch bị co thắt dẫn đến THA. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện cho mình tính tự lập, kiên nhẫn và luôn biết làm chủ bản thân trước mọi vấn đề xảy ra trong cuộc sống. Có như vậy mới có thể hạn chế tối đa mọi stress đồng thời cũng chính là phòng bệnh THA.
Trên đây là một số yếu tố nguy cơ gây bệnh THA đã được y học chứng minh và các biện pháp phòng tránh đã cho thấy hiệu quả rất tốt trên lâm sàng. Là các chuyên gia trong lĩnh vực tim mạch, chúng tôi xin gửi tới những người rất may mắn chưa bị bệnh THA biết cách phòng để không mắc bệnh, còn những bệnh nhân không may bị bệnh THA rồi thì cũng biết để hạn chế tối đa sự tiến triển nặng lên của bệnh cũng như những biến chứng của bệnh gây ra.
Viện Gút theo Bộ Y Tế


Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/yeu-to-gay-nguy-co-benh-tang-huyet-ap-470.html#ixzz3iYX37wQc