Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Các loại sản phẩm thảo dược hỗ trợ bệnh điều trị bệnh Gout


Sau gần 3 năm nghiên cứu và điều trị chuyên sâu về Gout, từ giữa năm 2010 đến nay, Viện Gút đã điều trị thành công cho những bệnh nhân Gout mạn tính cùng lúc bị nhiều biến chứng nguy hiểm như : suy thận, suy giảm chức năng gan, biến dạng khớp do các u cục tophi, phù nề giữ nước nhiều năm, nhiễm trùng lâu ngày trên những cục tophi bị vỡ, thoái hóa khớp và loãng xương nặng do dùng corticod dài ngày...Sau một thời gian điều trị tích cực, các biến chứng đã bị đẩy lùi, tình trạng sức khỏe của các bệnh nhân được cải thiện toàn diện. Để đạt được kết quả đột phá trên, Viện Gút đã hợp tác với các nhà khoa học Việt Nam nghiên cứu sản xuất các sản phẩm có nguồn gốc hoàn toàn từ thảo dược của Việt Nam hỗ trợ điều trị Gout và các bệnh liên quan Gout. 
 
Các sản phẩm 100% tinh chất thảo dược đã được hỗ trợ điều trị hiệu quả cho những bệnh nhân Gout mãn tính bị kèm theo nhiều biến chứng  
 

Thứ Hai, 4 tháng 6, 2012

Triệu chứng của gout mạn tính

Gout mạn tính biểu hiện bằng dấu hiệu nổi các cục u (tôphi) và viêm đa khớp mạn tính, do đó còn được gọi là “gout lắng đọng”. Gout mạn tính có thể tiếp theo gout cấp tính. Nhưng phần lớn là bắt đầu từ từ tăng dần không qua các đợt cấp. * Triệu chứng lâm sàng ở khớp:
Bàn tay bệnh nhân Gout mạn tính
  - Nổi u cục (tophi): là hiện tượng lắng đọng urat ở xung quanh khớp, ở màng hoạt dịch, đầu xương, sụn...

+ Vị trí: u cục (tôphi) thấy ở trên các khớp bàn ngón chân cái, các ngón khác, cổ chân, gối, khuỷu, cổ tay, bàn ngón tay và đốt ngón gần, có một vị trí rất đặc biệt là trên sụn vành tai. Chưa thấy ở háng, vai và cột sống. 

+ Tính chất: kích thước to nhỏ không đồng đều, từ vài milimet đến nhiều centimet đường kính, lồi lõm, hơi chắc hoặc mềm, không di động do dính vào nền ở dưới, không đối xứng (2 bên) và không cân đối, ấn vào không đau, được bọc bởi một lớp da mỏng, phía dưới thấy cặn trắng như phấn, đôi khi da bị loét và dễ chảy nước vàng và chất trắng như phấn. 
 
- Viêm đa khớp: Các khớp nhỏ và nhỡ bị viêm là bàn ngón chân và tay, đốt ngón gần, cổ tay, gối, khuỷu, viêm có tính chất đối xứng, biểu hiện viêm thường nhẹ, không đau nhiều, diễn biến khá chậm, các khớp háng, vai và cột sống không bị tổn thương.
 

- Biểu hiện ngoài khớp :
 
+ Urat có thể lắng đọng ở thận dưới hai hình thức :
 
Lắng đọng rải rác ở nhu mô thận: hoặc không thể hiện triệu chứng gì, chỉ phát hiện qua giải phẫu bệnh, hoặc gây viêm thận bể thận.
 
Gây sỏi đường tiết niệu: sỏi acid uric ít cản quang, chụp thường khó thấy, phát hiện bằng siêu âm, chụp U.I.V. Sỏi thận dễ dẫn tới viêm nhiễm, suy thận. Đây là một trong những yếu tố quan trọng quyết định tiên lượng của bệnh. 

+ Urat có thể lắng đọng ở một số cơ quan ngoài khớp như:
 
 
Gân, túi thanh dịch, có thể gây đứt hoặc chèn ép thần kinh (hội chứng đường hầm).
 
Ngoài da và móng tay móng chân: thành từng vùng và mảng dễ nhầm với bệnh ngoài da khác  (vẩy nến, nấm).
 
Tim: urat có thể lắng đọng ở màng ngoài tim, cơ tim, có khi cả van tim nhưng rất hiếm.
 
* Xét nghiệm và X quang:
 
- Xét nghiệm:
 
+ Tốc độ lắng máu tăng trong đợt tiến triển của bệnh. Các xét nghiệm khác không có gì thay đổi.
 
+ Acid uric máu tăng trên 7mg% (trên 416 micromol/l).
 
+ Acid uric niệu/24h: bình thường từ 400-450mg, tăng nhiều trong gout nguyên phát; giảm rõ với gout thứ phát sau bệnh thận.
 
Dịch khớp có biểu hiện viêm rõ rệt (lượng muxin giảm, bạch cầu tăng nhiều). Đặc biệt thấy những tinh thể urat monosodic nằm trong hoặc ngoài tế bào.

+ X quang: Dấu hiệu quan trọng nhất của bệnh là khuyết xương hình hốc ở các đầu xương, hay gặp ở xương đốt ngón chân, tay, xương bàn tay, chân, đôi khi ở cổ tay, chân, khuỷu và gối. Khuyết lúc đầu ở dưới sụn khớp và vỏ xương, như phần vỏ được thổi vào, bung ra (hình lưỡi liềm), khe khớp hẹp rõ rệt. Sau cùng hình khuyết lớn dần và tạo nên hình hủy xương rộng xung quanh có những vết vôi hoá. Nếu bệnh tiến triển lâu có thể thấy những hình ảnh thoái hóa thứ phát (hình gai xương).
Trích bệnh Gút

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

Bản tin VTV: Acid Uric và bệnh gút

Khi nói tới bệnh Gút hầu như chúng ta đều đỗ dồn sự quan tâm tới acid uric. Đối với bệnh nhân  Gút acid uric chỉ là một trong số những chất tham gia vào sự hình thành nên muối urat, kết tủa tại khớp, các tổ chức dưới da, trong ống thận, trong lòng mạch. Dù muối urat đã kết tủa tại khớp nó cũng chỉ là những tác nhân nguy cơ gây ra cơn gút cấp. Còn rất nhiều điều kiện khác mới có thể gây ra cơn gút cấp, nhưng có lẽ sai lầm lớn nhất là cả những người mới bị gút và cả những bệnh nhân gút đã bị biến chứng là chỉ quan tâm đến giải quyết triệu chứng mà quên mất rằng còn cần phải giải quyết hậu quả do gút để lại và ngăn chặn các tác nhân ngoại sinh có thể làm cho bệnh gút phát triển nhanh hơn, các tác nhân ngoại sinh ấy từ ăn uống, từ tác dụng phụ các loại thuốc điều trị nhiều bệnh khác nhau từ nhiễm độc chì, nhiễm độc Asen trong nguồn nước ăn uống.  


Gút ở người cao tuổi: Có gì đặc biệt ? VIỆN GÚT

Gút là một bệnh khớp vi tinh thể, do các tinh thể urat lắng đọng vào trong màng hoạt dịch khớp gây nên sưng nóng đỏ đau khớp. Nguyên nhân là do rối loạn chuyển hóa đạm của cơ thể (nhân purin), làm tăng acid uric máu.
thịt bò với bệnh gout.

Tại sao gút thường xảy ra ở người cao tuổi?
Bệnh gút thường xảy ra ở những người ở độ tuổi trung niên và cao tuổi. Có nhiều lý do giải thích điều này. Đầu tiên là ở độ tuổi này, các rối loạn chuyển hóa, vốn thường kín đáo ở tuổi trẻ, bắt đầu trở nên rõ ràng, thường xuyên hơn. Bệnh nhân gút có thể chỉ bị rối loạn đạm với biểu hiện là mắc bệnh gút cũng như có thể kết hợp với nhiều dạng rối loạn chuyển hóa khác như đái tháo đường, tăng mỡ máu, béo phì, gan nhiễm mỡ, xơ vữa động mạch. Chính các rối loạn chuyển hóa này khi phối hợp với nhau càng làm cho bệnh tiến triển nhanh và nặng hơn.

 Ăn thực phẩm quá nhiều chất đạm là một yếu tố nguy cơ gây bệnh gút.
Những người cao tuổi thường có chế độ ăn uống sinh hoạt không hợp lý như uống ít nước, ăn nhiều đạm, uống rượu, thường lo lắng, căng thẳng trong cuộc sống. Chính đó là yếu tố làm gia tăng nguy cơ tái phát bệnh.
Ở độ tuổi này, bệnh nhân thường mắc nhiều bệnh khác như tim mạch, thận, nội tiết, đái tháo đường. Trong các bệnh này, mạch máu thường bị tổn thương cũng như máu thường bị ứ đọng, khó lưu thông. Điều này làm giảm khả năng thải tiết acid uric ra khỏi cơ thể qua đường thận. Kết quả là acid uric ngày càng lắng đọng trong khớp cũng như các tổ chức khác.
Chế độ thuốc thang cũng có thể là nguyên nhân làm tăng acid uric máu. Người cao tuổi hay bị nhiều bệnh và phải dùng nhiều loại thuốc khác nhau. Một số thuốc điều trị có thể hạn chế sự bài tiết acid uric ra khỏi cơ thể như các thuốc lợi tiểu, hạ huyết áp, thuốc corticoid (prednisolon, dexamethason). Nhiều bệnh nhân bị mắc bệnh gút cũng thường chủ quan, thấy đỡ đau khớp là ngừng thuốc nên bệnh vẫn tiếp tục tái phát. Một điều quan trọng nữa là bệnh nhân gút hay dùng các loại thuốc đông dược không rõ nguồn gốc theo lời đồn đại, chưa được kiểm chứng. Kết quả là tiền mất tật mang và bệnh lại càng tiến triển nặng hơn. Nhiều bệnh nhân gút bị tái phát bệnh khi trải qua phẫu thuật.
Gút ở người cao tuổi dễ nhầm với các bệnh khớp khác

Bệnh gút ở người cao tuổi cũng khó chẩn đoán vì dễ nhầm với nhiều bệnh khớp khác nhau cũng như do bệnh có nhiều biểu hiện kín đáo, không điển hình. Do vậy, bệnh dễ chẩn đoán nhầm với nhiều bệnh khác. Một khi đã xuất hiện và không được điều trị hợp lý thì bệnh có xu hướng tiến triển mạn tính, kéo dài. Kết quả là bệnh để lại nhiều biến chứng nặng. Điều trị gút ở người cao tuổi thường khó khăn, hiệu quả không cao do thuốc dễ tương tác với các thuốc khác gây nên phản ứng phụ. Ví dụ như trong quá trình dùng thuốc hạ acid uric máu như allopurinol, khi bệnh nhân bị viêm họng, viêm phế quản thì dùng kháng sinh như amoxillin có thể gây tăng nguy cơ dị ứng. Chính bản thân các thuốc chữa gút như allopurinol, colchicin cũng có thể gây dị ứng khiến việc điều trị gặp khó khăn.
Điều trị như thế nào?
Để có thể kiểm soát được bệnh gút ở người cao tuổi thì đầu tiên phải chú ý phát hiện sớm bệnh. Cần phải nghĩ đến bệnh gút khi người cao tuổi có sưng đau khớp ở chi dưới, đặc biệt là ở khớp ngón chân cái. Tốt nhất là bệnh nhân mắc bệnh khớp cần đến khám ngay ở các cơ sở y tế chuyên khoa cơ xương khớp. Tránh tình trạng dùng thuốc tràn lan theo mách bảo của mọi người, vì dùng thuốc không đúng có thể làm mất triệu chứng khớp khiến chẩn đoán sau đó gặp khó khăn. Do việc tự dùng thuốc mà có bệnh nhân gút khi vào viện đã bị các biến chứng nặng nề do thuốc như đái tháo đường, tăng huyết áp, đột quỵ. Việc điều trị cần theo đúng phác đồ, và kéo dài để bệnh nhân không bị tái phát bệnh trong nhiều năm. Người bệnh cần đến khám bác sĩ thường xuyên, làm xét nghiệm định kỳ để theo dõi và điều chỉnh kịp thời các biểu hiện bệnh cũng như các biến chứng bệnh. Điều quan trọng nhất là bệnh nhân cần có chế độ ăn uống, sinh hoạt hợp lý, điều trị các bệnh kèm theo. Chỉ khi phối hợp nhiều biện pháp điều trị và dự phòng thì bệnh mới có thể ổn định.
PGS.TS.BS. NGUYỄN VĨNH NGỌC
 

Gút - "Bệnh thời sự" của những người lạm dụng ăn nhậu

Từ 30 tuổi trở lên, ở người đàn ông đã tiềm ẩn nguy cơ bệnh gút . Nếu trong sinh hoạt và dinh dưỡng, anh ta quá lạm dụng rượu bia và các thức ăn giàu chất đạm (như thịt chó, thịt dê, lòng lợn, tiết canh, hải sản...) thì triệu chứng bệnh sớm muộn cũng sẽ xuất hiện.
nhau-nhet
Tiến sĩ Trần Ngọc Ân, chủ tịch Hội Thấp khớp học Việt Nam, cho biết, nếu như 1 năm trước đây, gút chỉ chiếm 1% trong các bệnh về xương khớp thì hiện nay, nó đã chiếm đến 4-5% tổng số bệnh nhân phải nằm viện vì các bệnh này. Đây là một trong những bệnh mang tính thời sự do việc lạm dụng bia rượu và ăn nhậu gây nên. 
Bệnh gút thường chỉ xuất hiện ở nam giới tuổi trung niên. Nguyên nhân gây bệnh là tình trạng thừa axit uric (trên 1 mg/1 cc máu) do cơ thể được cung cấp quá nhiều chất đạm. Lượng axit uric dư thừa sẽ kết lại thành các tinh thể đóng ở các khớp, gây đau.
Triệu chứng đầu tiên của bệnh gút xuất hiện sau các bữa ăn thịnh soạn với biểu hiện sưng đau ở một trong 2 ngón chân cái. Tình trạng
này mất đi rồi lại tái phát; bệnh nhân đau rất dữ dội, đến mức không đi lại được. Các triệu chứng này có thể bị bác sĩ chẩn đoán nhầm là nhiễm trùng và cho dùng thuốc kháng sinh. Nếu không được chẩn đoán đúng và điều trị hợp lý, bệnh sẽ lan dần sang các khớp khác, gây biến dạng, lở loét và có khi làm mất chức năng vận động khớp. Lâu ngày, chất axit uric sẽ làm suy thận và có thể dẫn đến tử vong.









Mức độ chuyển biến bệnh cũng tùy theo ý thức giữ gìn của bệnh nhân. Nếu người bệnh tiếp tục ăn nhậu, kết cục xấu nhất có thể xảy ra chỉ trong vòng vài ba năm.

Hiện đã có thuốc chữa bệnh gút nhưng chỉ có tác dụng ở giai đoạn sớm. Thường chỉ nửa ngày hoặc một ngày sau khi uống thuốc, các triệu chứng bệnh sẽ rút hết. Nhưng nếu bệnh nhân không kiêng cữ đúng mực, bệnh sẽ tái phát. Điều đó có nghĩa là, đến nay chưa có thuốc nào điều trị được tận gốc căn bệnh.

Bệnh nhân gút có thể dùng thuốc Colchicin để chống viêm và Allopurinol để làm giảm nồng độ axit uric trong máu (theo chỉ định của bác sĩ). Tuy nhiên, điều quan trọng nhất vẫn là dự phòng bằng cách thực hiện chế độ dinh dưỡng hợp lý , tránh ăn thức ăn giàu đạm và uống nhiều rượu bia.

Tiến sĩ Ân cũng cho biết, hiện Đông y không thể chữa khỏi bệnh gút.

Tuổi Trẻ

Bệnh gout và cách điều trị

Dùng thuốc và các nhóm thuốc
Việc điều trị bệnh nhằm mục đích làm giảm đau giảm viêm ( khi viêm cấp) giảm và duy trì lượng acid uric máu ở mức bình thường ( acid uric ở dưới 360 mmol/l) để khỏi tái phát viêm khớp, bảo vệ thận khỏi sỏi thận và suy chức năng thận.



Khi sử dụng dự phòng bằng colchicine có thể làm giảm đợt cấp xuống 85%. Liều dự phòng colchicine tiêu chuẩn là 0,6mg ngày 2 lần. Khi suy thận cần giảm liều hoặc dùng cách nhật.
Bệnh nhân có thể phòng tránh một đợt gout cấp bằng cách uống một viên colchicine duy nhất khi xuất hiện triệu chứng đau đầu tiên.
Nếu so sánh với 80% bệnh nhân có nguy cơ tác dụng phụ trên đường tiêu hóa khi dùng colchicin cho đợt gout cấp, thì liều lượng colchicine dự phòng chỉ gây tác dụng phụ trên 4% bệnh nhân mà thôi.
Sử dụng colchicine kéo dài có thể dẫn đến yếu cơ kết hợp với tăng creatine kinase do thuốc gây bệnh lý thần kinh cơ, đặc biệt ở những bệnh nhân suy thận.
Colchicine không được dùng khi độ lọc cầu thận (GFR) dưới 10 ml/phút, và nên giảm liều xuống ít nhất một nửa khi GFR thấp hơn 50 ml/phút. Colchicine cũng nên tránh dùng ở bệnh nhân rối loạn chức năng gan, tắc mật và tiêu chảy nhiều. Điều trị bằng colchicine đơn độc có thể phòng ngừa những đợt gout cấp nhưng không ngăn cản được việc tích lũy acid uric trong các khớp có thể dẫn đến việc phá hủy khớp sau này. Nếu bệnh nhân không dùng được colchicine, có thể thay thế bằng NSAID để dự phòng, ví dụ indomethacin, 25mg ngày 2 lần. Thuốc chống viêm giảm đau (khi viêm cấp): Các thuốc kháng viêm giảm đau chỉ dùng khi có cơn viêm khớp, nhằm cắt cơn viêm càng sớm càng tốt! Các thuốc kháng viêm không steroid(NSAID): Là thuốc được dùng ở các bệnh nhân không có những bệnh khác đi kèm. Indomethacin là chọn lựa kinh điển nhưng tránh dùng cho bệnh nhân lớn tuổi, vì thường gây những tác dụng phụ trên hệ thần kinh trung ương. Tuy nhiên, có thể dùng hầu hết các loại NSAIDS. Nên chọn loại thuốc có tác dụng nhanh, nhưng không nên dùng aspirin vì nó làm thay đổi lượng acid uric, kéo dài và làm tăng cường độ đợt gout cấp. Các thuốc ức chế Cyclooxygenase-2 (COX-2) cũng đem lại kết quả điều trị tốt. Khởi đầu với liều cao trong 2-3 ngày rồi giảm liều dần xuống trong vòng 2 tuần. Bệnh nhân phải hết đau ít nhất 2 ngày trước khi ngưng NSAIDS. Chú ý: Tránh dùng NSAIDS trên bệnh nhân có tiền sử loét dạ dày tá tràng hoặc xuất huyết tiêu hoá, bệnh nhân suy thận, bệnh nhân rối loạn chức năng gan, bệnh nhân đang dùng coumarin (có thể thay thế bằng thuốc ức chế COX-2), và những bệnh nhân nặng ở khoa săn sóc đặc biệt có nguy cơ viêm dạ dày do stress. Các thuốc Corticoids:
Có thể sử dụng cho những bệnh nhân không dùng được NSAIDS hoặc colchicine. Một số chuyên gia khớp học khuyên dùng corticoids thay vì NSAIDS trong điều trị gout cấp. Corticoids có thể dùng đường uống, tiêm tĩnh mạch, tiêm bắp, tiêm nội khớp, hoặc dùng gián tiếp qua trung gian hormon adrenocorticotropic (ACTH).
Dùng corticoids tiêm không mang lại ưu điểm nào hơn trừ trường hợp bệnh nhân không thể dùng được thuốc uống.
Tiêm corticoids nội khớp đặc biệt hữu ích khi bệnh nhân chỉ đau ở một khớp để tránh tác dụng toàn thân của corticoids uống. Cần đảm bảo là không có tình trạng nhiễm trùng khớp trước khi tiêm nội khớp.
Có thể dùng ACTH liều 40 IU tiêm bắp để thúc đẩy sự sản xuất corticoid bằng chính tuyến thượng thận của bệnh nhân. Dùng thuốc này không cần giảm liều từ từ như đối với prednisone. Thuốc giảm axit uric máu:Thuốc làm giảm acid uric máu (như allopurinol, sulphinpyrazone và probenecid): Để điều trị tận gốc các hậu quả (gây các đợt viêm khớp cấp, gây sỏi thận, gây suy thận.) của căn bệnh này cần phải giảm bớt lượng acid uric máu bằng thuốc ức chế tổng hợp acid uric và/ hoặc các thuốc làm tăng thải acid uric ra ngoài. Các thuốc làm giảm acid uric đều đòi hỏi phải dùng liên tục nhiều năm vì đây chính là việc phòng ngừa bệnh tái phát.
Trong thời gian uống thuốc làm giảm acid uric máu, bệnh nhân cần uống nhiều nước để giúp thải acid uric qua đường tiểu được dễ dàng hơn. Probenecid tăng thải acid uric qua đường nước tiểu. Một số nhà khớp học chọn dùng probenecid vì ít gây tác dụng phụ hơn allopurinol. Probenecid có thể dùng ở đa số đàn ông bị gout, tuổi trung niên, khoẻ mạnh.
Chỉ định dùng allopurinol thay vì probenecid khi có suy thận (GFR <50 ml/phút), sỏi thận, đang uống aspirin (ức chế tác dụng của probenecid), sản xuất quá nhiều acid uric, và khi không đáp ứng với điều trị probenecid.
Probenecid có thể tương tác với một số thuốc khác.
Bệnh nhân dùng probenecid cần uống 2 lít nước mỗi ngày khi bắt đầu điều trị để bảo đảm đủ nước tiểu tránh nguy cơ sỏi thận. Sulfinpyrazone tăng thải acid uric qua đường nước tiểu. Sulfinpyrazone là một chất làm tăng bài tiết acid uric qua nước tiểu có tác dụng kháng tiểu cầu nhưng ít dùng vì nguy cơ ức chế tủy xương. Allopurinol là thuốc rất thường dùng để giảm acid uric máu, vì thuốc ức chế tổng hợp acid uric. Allopurinol ngăn chặn xanthine oxidase và làm giảm sản xuất acid uric. Do đó, nên được dùng ở các bệnh nhân sản xuất quá nhiều acid uric và bệnh nhân có nguy cơ hội chứng phân giải khối u (tumor lysis syndrome) để đề phòng ngộ độc thận trong khi đang điều trị ung thư. Đây là thuốc hiệu quả nhất để làm giảm lượng acid uric trong huyết thanh. Tuy nhiên, rượu có thể làm giảm hiệu quả của allopurinol.
Khoảng 3-10% bệnh nhân dùng allopurinol bị khó tiêu, nhức đầu, tiêu chảy hoặc nổi sẩn, mẩn ngứa. Hiếm gặp hơn là trường hợp phản ứng quá mẫn với allopurinol với tỉ lệ tử vong khoảng 20-30%. Các biểu hiện của phản ứng quá mẫn là sốt, hoại tử biểu bì nhiễm độc, suy tủy, tăng eosinophil, phản ứng bạch cầu, suy thận, suy gan, và viêm mạch máu. Corticoids thường được dùng trong trường hợp phản ứng quá mẫn. Phản ứng quá mẫn với allopurinol thường gặp ở bệnh nhân suy thận, bệnh nhân dùng lợi tiểu, và bệnh nhân khởi đầu bằng viên allopurinol hàm lượng 300 mg. Allopurinol cần được ngưng khi bệnh nhân nổi sẩn ngứa. Trong đa số trường hợp nên bắt đầu bằng liều 100mg mỗi ngày và điều chỉnh liều mỗi tháng tuỳ theo mức acid uric cho đến khi đạt mục tiêu 5-6 mg/dl. Lưu ý vấn đề tương tác thuốc, khi đang dùng Allopurinol- Cố gắng tránh sử dụng các kháng sinh nhóm Lactam (nhóm Penicillines, đặc biệt là Ampicilline và Amoxyclin) vì Allopurinol làm tăng khả năng dị ứng của các kháng sinh này lên nhiều lần).
- Thận trọng khi dùng các thuốc ức chế men chuyển (đặc biệt là Captopril) vì thuốc này làm tăng khả năng dị ứng với Allopurinol.
- Không nên dùng Corticosteroids và Aspirin dài ngày vì hai loại thuốc này ảnh hưởng không tốt đến bệnh và gây tăng acid uric máu.
- Không dùng các thuốc lợi tiểu thiazide vì cản trở thải acid uric qua đường tiểu và tăng khả năng dị ứng Allopurinol.
- Khi cần sử dụng thuốc hạ sốt người bệnh có thể dùng là Paracetamol.
- Khi bị các viêm nhiễm cần điều trị kháng sinh, người bệnh nên báo cho bác sĩ biết mình đang dùng Allopurinol và các bác sĩ sẽ cho dùng kháng sinh thuộc các nhóm khác như: Erythromycine, Rovamycin, Tetracycline, Bactrim, Ciprofloxacine, Pefloxacin, Ofloxacin, Norfloxacin,.
- Allopurinol có thể được dùng phối hợp với probenecid. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng allopurinol tăng thời gian bán hủy của probenecid và ngược lại, probenecid lại tăng đào thải allopurinol.
- Các thuốc lợi tiểu khác, lợi tiểu đông nam dược đều có thể dùng. Các thuốc lợi tiểu thảo dược thường làm tăng lưu lượng dịch tới thận, tăng mức lọc cầu thận, làm kiềm hóa nước tiểu, không thải muối. nên thuận lợi cho việc thải acid uric, (đặc biệt là lá xakê). Có thể kết hợp với các thuốc này để tăng cường và củng cố kết quả điều trị. Nhiều trường hợp còn làm giảm bớt liều thuốc phải sử dụng.

nguồn internet 

Bệnh Gút ( Gout ) có chữa khỏi được không ? P1


Cơn Gout cấp tính
hình ảnh về gout
Cơn gút cấp thường xảy ra sau bữa ăn có quá nhiều thịt (nhất là loại có nhiều purin như thịt chó, nội tạng), sau khi uống nhiều rượu. Cảm xúc mạnh, lao động nặng, đi lại nhiều, chấn thương (kể cả chấn thương nhỏ như đi giày chật), nhiễm khuẩn... cũng là những yếu tố làm cơn đau xuất hiện.

Cơn gút cấp tính là một trong các biểu hiện lâm sàng của bệnh gút - một bệnh xảy ra do rối loạn chuyển hóa axit uric trong cơ thể, làm tăng nồng độ axit uric trong máu, dẫn đến lắng đọng natri urat trong khớp, thận và tổ chức dưới da, gây đau. Cơn gút cấp tính lần đầu thường xảy ra ở lứa tuổi 35-55, hay gặp ở nam giới. Nó đến đột ngột vào ban đêm, gây đau khớp, đa số là khớp bàn - ngón chân cái. Khớp sưng to, đỏ, phù nề, căng bóng, nóng, đau dữ dội và tăng dần, va chạm nhẹ cũng rất đau, thay đổi mọi tư thế đều không dịu đi.
Cơn đau kéo dài nhiều ngày, thường là 5-7 ngày, sau đó các dấu hiệu của viêm giảm dần. Trong cơn đau, người bệnh có thể sốt vừa hoặc sốt nhẹ, mệt mỏi, nước tiểu ít và đỏ. Cơn gút cấp tính dễ tái phát, thông thường 1-2 cơn mỗi năm, sau đó khoảng cách giữa các cơn ngắn lại, nhưng cũng có thể tới trên 10 năm mới tái phát.

Trong điều trị bệnh gút, chế độ ăn rất quan trọng; trong mọi bữa đều không nên ăn quá mức. Với những người đã tăng axit uric (trên 70 mg/l), cần tránh những bữa ăn có quá nhiều purin, người béo phải dùng chế độ giảm calo. Không uống rượu, uống nhiều nước (2-4 lít/ngày), nhất là loại nước có nhiều bicarbonat như nước khoáng.

Khi bị cơn gút cấp tính, phải dùng ngay thuốc chống viêm. Thuốc có hiệu lực tốt nhất là colchicin, uống 1 viên 1 mg x 2-3 lần trong ngày đầu (tối đa 4 viên); 1 viên x 2 lần trong ngày thứ hai và 1 viên/ngày trong 3 ngày tiếp theo. Liều duy trì để tránh cơn tái phát là 1 viên mỗi ngày, uống trong 3 tháng, 6 tháng, 1 năm hoặc dài hơn. Những người suy gan, suy thận, suy tủy xương cần thận trọng khi dùng thuốc và phải được sự theo dõi chặt chẽ của thày thuốc.

Ngoài colchicin, có thể dùng phenylbutazon hoặc indomethacin tuy chúng tác dụng có kém hơn. Những thuốc này cũng có tác dụng phụ không tốt, cần được thày thuốc hướng dẫn cụ thể.
Theo Sức Khỏe & Đời Sống