Thứ Sáu, 29 tháng 5, 2015

Dùng thuốc allopurinol cho bệnh gút được không ?

Tôi bi bệnh gút có nên dung thường xuyên allopurinol không ? vì tôi dung thuốc này thấy giảm acid uric rất tốt

Chào bác !
Allopurinol là thuốc điều trị giảm acid uric trong máu với các biệt dược Zyloric, Allorine, Zyrimax… Thuốc hiện nay được dùng điều trị rộng rãi trong bệnh gout. Bệnh nhân dùng allopurinol cần chú ý phòng ngừa và biết cách xử lý khi gặp tác dụng không mong muốn do thuốc.
Chỉ định
Giảm sự hình thành urat/acid uric trong những bệnh cảnh gây lắng đọng urat/acid uric (như viêm khớp do gút, sạn urat ở da, sỏi thận) hoặc nguy cơ lâm sàng có thể dự đoán trước (như việc điều trị khối u ác tính có khả năng dẫn đến bệnh thận cấp do acid uric).
Điều trị sỏi thận do 2,8-dihydroxyadenin (2,8-DHA) liên quan đến tình trạng thiếu hụt hoạt tính của adenin phosphoribosyltransferase.
Điều trị sỏi thận calci oxalat hỗn tạp tái phát gặp trong chứng tăng uric niệu khi chế độ ăn uống và các biện pháp tương tự thất bại.
Chống chỉ định
- Quá mẫn với allopurinol hoặc bất kỳ thành phần nào trong công thức.
- Bệnh nhân bị bệnh gan, thận nặng (chứng tăng urê huyết).
- Chứng nhiễm sắc tố sắt vô căn (ngay cả khi chỉ có tiền sử gia đình).
- Không nên dùng allopurinol điều trị khởi đầu cơn gút cấp.
- Chống chỉ định ở trẻ em ngoại trừ trẻ bị bệnh u bướu hoặc rối loạn men.
Tác dụng phụ thường gặp:
- Nôn và buồn nôn. Bạn nên chia thành nhiều bữa ăn và ăn nhiều lần trong ngày. Uống nhiều nước nếu bạn ốm.
Tác dụng phụ ít gặp nhưng thường trầm trọng
Dị ứng da: Phát ban, bong da, mụn nhọn hoặc bạn cảm đau môi, miệng. Khi gặp những dấu hiệu trên, hãy liên lạc ngay với bác sỹ.
- Mệt mỏi: Buồn ngủ, ngủ gà, ngủ gật. Bạn nên tránh lái xe hoặc điều khiển máy móc khi buồn ngủ.
- Gây viêm gan: xét nghiệm máu. Bệnh nhân nên giảm liều hoặc dừng thuốc.
- Khác: Đau đầu, hoa mắt, rối loạn vị giác, tăng huyết áp, rụng tóc, mệt mỏi.
Tác dụng phụ khi dùng lâu dài
- Allopurinol thường phải dùng trong một thời gian dài. Ít gặp tác dụng không mong muốn. Thuốc không ảnh hưởng đến khả năng sinh con. Tuy nhiên bệnh nhân cần nên chú ý:
- Xét nghiệm máu: Kiểm tra chỉ số acid uric trong máu trong vài tháng điều trị nhằm đánh giá tác dụng của thuốc.
- Định kỳ khám lại.
Tương tác thuốc
- Tương tác thuốc Allopurinol có thể tương tác với một số thuốc khác. Hãy hỏi ý kiến bác sỹ khi uống kèm với thuốc khác bao gồm cả thảo dược hoặc liệu pháp thiên nhiên. Bạn cũng nên thận trọng khi thay đổi chuyên gia khớp hoặc bác sỹ khác. 
  • Tương tác thuốc có thể xảy ra nghiêm trọng khi dùng với azathioprine (Imuran) hoặc mercaptopurine (Puri Nethol).
  • Một số thuốc có thể làm giảm tác dụng allopurinol bao gồm: warfarin, ampicillin, amoxicillin, thiazide và sulfinpyrazone.
  • Có thể dùng kèm thêm aspirin với liều dùng thấp để ngăn ngừa cơn đau tim cấp nhưng nên tránh dùng aspirin liều cao vì nó làm tăng acid uric huyết thanh. 
Tất cả bệnh nhân dùng allopurinol nên thường xuyên tái khám để theo dõi quá trình điều trị đồng thời giảm nguy cơ tác dụng không mong muốn. Định kỳ kiểm tra acid uric trong máu. Nếu gặp phải khó khăn trong điều trị, hãy hỏi tư vấn của bác sỹ hoặc các chuyên gia khớp.



Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/bi-benh-gout-co-nen-dung-thuoc-allopurinol--450.html#ixzz3baNfDds7

Thứ Hai, 25 tháng 5, 2015

Bệnh gút có lây không ?

Bệnh gút có lây không ?

 Bệnh gút có bị có bị lây nhiễm không ? Khi tiếp xúc những người bị bệnh gút bạn không phải lo sợ vì bệnh gút không lây nhiễm như các bệnh khác.

Bệnh gút không phải là bệnh truyền nhiễm mà đây là bệnh liên quan đến rối loạn chuyển hóa, do ăn uống nên bạn yên tâm là không lây.
Gút là một bệnh rối loạn về chuyển hóa liên quan đến việc tăng sản xuất hoặc giảm đào thải chất acid uric trong cơ thể. Có thể nói nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gout là sự lắng đọng vi tinh thể muối urate natri tại các cơ quan trong cơ thể như: tại các khớp, tại tim, tại thận,...
Tìm hiểu thêm : 
Nguyên nhân gây bệnh gút
Còn vấn đề có ảnh hưởng đến quan hệ vợ chồng không? thực ra chúng tôi thấy bệnh nhân bị gút mà đau đớn thì cũng hạn chế nhu cầu tình dục. Còn khi điều trị gút cho ổn định rồi, không còn đau khớp nữa thì mọi cái sẽ trở về bình thường thôi.
Để được tư vấn khám và điều trị bệnh gút bạn vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin:
Phòng khám Đa Khoa Viện Gút
Địa chỉ: 13A Hồng Hà, Phường 2, Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : 08 62968626                           Fax : 08 62968627
Điện thoại đường dây nóng : 0982. 180. 080
Website : http://benhgout.net                   Email : viengutvn@gmail.com  


Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/benh-gut-co-lay-khong--449.html#ixzz3bDDMoYvN

Thứ Hai, 18 tháng 5, 2015

Xác định bệnh gút bằng máy siêu âm

Siêu âm có thể giúp chẩn đoán sớm bệnh gút không triệu chứng
“Những bệnh nhân tăng uric máu không triệu chứng cho thấy có những thay đổi về hình thái học trên siêu âm tương tự như những bệnh nhân bị bệnh gút”, bác sĩ Carlos Pineda (Instituto Nacional de Rehabilitacion Mexico City, Mexico) nói trong buổi báo cáo của ông vào ngày 19/07. “Những kết quả này xác nhận lại rằng những tinh thể urate có hiện diện trong mô khớp trước khi bệnh gút có những biểu hiện lâm sàng”. 


Trong 45 bệnh nhân được xác nhận là có tăng acid uric máu với nồng độ khoảng 7 mg/dL, các bác sĩ phát hiện thấy 24 người trong số đó có dấu hiệu “bờ đôi” trên siêu âm chứng tỏ khả năng có tích tụ tinh thể trong khớp. Trong khi đó, các khảo sát tương tự cũng được thực hiện trên 52 người ở nhóm chứng có nồng độ acid uric máu bình thường thì chỉ có 1 bệnh nhân có dấu hiệu bờ đôi (P <0.001). 

Bác sĩ Pineda và các cộng sự phát hiện ra những bệnh nhân bị tăng acid uric máu không triệu chứng từ những xét nghiệm thường quy được thực hiện khi khảo sát những bệnh lý khác hoặc trong các cuộc khám sức khỏe định kỳ. Những bệnh nhân có acid uric máu trên 7.0 mg/dL và không có biểu hiện nào của đau khớp sẽ được thu nhận vào nhóm nghiên cứu. Trong nhóm chứng cũng thu nhận những bệnh nhân không có biểu hiện đau khớp. Nồng độ acid uric máu trung bình ở những bệnh nhân được cho là có tăng uric máu là 8.17 mg/dL. 

Tất cả bệnh nhân đều được siêu âm sụn và các dây chằng của đùi ở khớp gối và mắt cá chân, gân gót Achille, và khớp bàn-ngón số 1. Các nhà nghiên cứu nhận thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về sự hiện diện của các gai xương, của các vùng xương bị ăn mòn, hoặc viêm bao hoạt dịch giữa những bệnh nhân bị tăng acid uric máu và những bệnh nhân có acid uric máu bình thường. 

Nhưng họ phát hiện ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở biểu hiện “dấu bờ đôi” trong số những người có tăng acid uric máu. “Siêu âm đã chứng tỏ là một phương tiện chẩn đoán được ưu tiên trong việc phát hiện ra những thay đổi trong viêm khớp do bệnh gút so với những phương tiện hình ảnh khác”, bác sĩ Pineda lưu ý, ” Những tính chất trên siêu âm của bệnh gút đã được xác định rõ từ trước. Tuy nhiên, những dấu hiệu trên các bệnh nhân không triệu chứng vẫn chưa được xác định một các đầy đủ”. 

Bác sĩ Pineda nói những dấu hiệu trên siêu âm hỗ trợ nhiều cho liệu pháp điều trị làm giảm urate máu ở những bệnh nhân tăng acid uric máu không triệu chứng. 

Colchicine: khắc tinh của cơn gút cấp tính

Colchicine không phải là thuốc được chọn lựa để điều trị gút cấp, tuy nhiên, thuốc cũng có hiệu quả trong vòng 12-24 giờ đầu tiên của cơn gút cấp và tác dụng giảm dần theo tình trạng viêm kéo dài. Bệnh nhân có thể uống một viên colchicine duy nhất khi xuất hiện triệu chứng đau đầu tiên. Lưu ý là khi được dùng để điều trị cơn gút cấp, colchicine gây những phản ứng phụ trên đường tiêu hóa, đặc biệt là nôn và tiêu chảy. Hiện tượng này xảy ra ở 80% bệnh nhân.



Colchicine không được dùng đối với bệnh nhân có độ lọc cầu thận (GFR) dưới 10ml/phút và nên giảm liều xuống ít nhất một nửa khi GFR thấp hơn 50ml/phút. Colchicine cũng nên tránh dùng ở bệnh nhân rối loạn chức năng gan, tắc mật và tiêu chảy nhiều.

Đáp ứng lâm sàng khi dùng colchicine không phải là đặc hiệu cho gút và còn có thể gặp ở bệnh nhân giả gút, bệnh lý khớp sarcoid, viêm khớp vảy nến và viêm gân vôi hoá.

Colchicine còn được dùng để tiêm tĩnh mạch, tuy đường dùng này có thể ngăn chặn được một đợt gút cấp nhưng chỉ nên sử dụng trong những tình huống thật cần thiết do độc tính của thuốc. Ở một số nước không cho phép dùng tiêm tĩnh mạch nữa vì tỉ lệ tử vong có thể lên đến 2%. Cần phải sử dụng colchicine tiêm tĩnh mạch rất thận trọng ở bệnh nhân suy gan, suy thận. Khi dùng thuốc qua đường tĩnh mạch nếu không may thuốc thoát khỏi thành mạch, nó có thể gây hoại tử mô, còn trong mạch máu, thuốc có thể gây viêm tắc tĩnh mạch. Mất bạch cầu hạt là biến chứng quan trọng nhất khi dùng colchicine tĩnh mạch. Do đó cần phải xét nghiệm máu để kiểm tra lượng bạch cầu hạt trước khi tiêm truyền. Các biến chứng khác bao gồm đông máu nội mạc rải rác, suy thận, độc tế bào gan, co giật và shock.

Colchicine phòng ngừa đợt gút cấp

Có thể dùng colchicine để dự phòng cơn gút cấp, tuy nhiên với bệnh nhân bị suy thận cần thận trọng khi dùng. Nếu so sánh với 80% bệnh nhân có nguy cơ tác dụng phụ trên đường tiêu hoá khi dùng colchicin cho đợt gút cấp thì liều lượng colchicine dự phòng chỉ gây tác dụng phụ trên 4% bệnh nhân mà thôi.
Khi sử dụng colchicine kéo dài để dự phòng cơn gút cấp, tác dụng phụ của thuốc có thể dẫn đến yếu cơ kết hợp với tăng creatine kinase do thuốc gây bệnh lý thần kinh cơ, đặc biệt ở bệnh nhân suy thận. Do vậy, nếu bệnh nhân không dùng được colchicine có thể thay thế bằng NSAID để dự phòng, ví dụ indomethacin, 25mg ngày 2 lần.

Trong nhiều trường hợp, bệnh nhân bị đợt gút cấp lần đầu cần phải được điều trị bằng các thuốc hạ uric acid, do nguy cơ tái phát những đợt cấp về sau và do nguy cơ hình thành những tophi phá huỷ ở xương và bao hoạt dịch, ngay cả khi không có những đợt viêm cấp. Mặc dù điều trị bằng colchicine đơn độc có thể phòng ngừa những đợt gút cấp nhưng không ngăn cản được việc tích luỹ acid uric trong các khớp có thể dẫn đến việc phá huỷ khớp sau này.
Một số nhà khớp học cho rằng nên chờ đợt cấp thứ 2 để bắt đầu điều trị giảm mức uric acid vì không phải bệnh nhân nào cũng có đợt viêm cấp thứ hai và do bệnh nhân cần được thuyết phục phải điều trị suốt đời. Trong tất cả các trường hợp, nguy cơ và lợi ích cần được cân nhắc dựa trên từng bệnh nhân. Ví dụ, ở một bệnh nhân cao tuổi có nhiều bệnh lý đi kèm và suy thận, nguy cơ khi dùng thuốc để hạ uric acid có thể cao hơn lợi ích mà nó đem lại.
Mặc dù việc sử dụng các chất làm hạ uric acid là quan trọng, nhưng cũng không nên bắt đầu dùng chúng ngay trong đợt gút cấp vì có thể làm cho đợt cấp nặng hơn và kéo dài lâu hơn. Chỉ nên dùng thuốc vài tuần sau khi đợt cấp đã lui và dưới sự bảo vệ của colchicine để đề phòng tái phát một đợt cấp mới.
Nếu xảy ra một đợt gút cấp khi bắt đầu dùng một loại thuốc hạ uric acid, không nên ngưng thuốc này lại vì điều này sẽ khiến cho lượng uric acid càng tăng nhiều hơn, làm đợt gút nặng và kéo dài hơn.
Theo Sức khỏe và Đời Sống

Kết quả điểu trị bệnh gout


Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/an-toan-voi-thuoc-colchicine-chua-tri-gut-cap-tinh-447.html#ixzz3aXT3e0pA

Thứ Ba, 12 tháng 5, 2015

Tìm hiểu bệnh thận mạn tính

Suy thận cấp là tình trạng suy giảm chức năng thận nhanh chóng do nhiều nguyên nhân cấp tính gây nên, dẫn tới tăng nồng độ ure, creatinin và một số chất khác trong màu.

Suy than
Suy thận cấp là tình trạng cấp cứu cần được xử trí nhanh chóng. Nếu không kịp bệnh nhân có thể tử vong do biến chứng phù phổi cấp, ngừng tim. Nhưng nếu được chẩn đoán và điều trị kịp thời thì chức năng thận có thể phục hồi hoàn toàn hoặc gần hoàn toàn. Hiện nay phương pháp điều trị hữu hiệu nhất là lọc máu bằng thận nhân tạo, kết hợp với điều trị bệnh chính.

Nguyên nhân

  • Nguyên nhân trước thận chiếm 75%là các nguyên nhân gây giảm dòng máu tới thận, làm giảm áp lực lọc cầu thận như: Bỏng, mất nước, mất máu, hạ huyết áp, suy tim, đái tháo đường, nhiễm trùng huyết, sốc nhiễm trùng…
  • Nguyên nhân tại thận chiếm 20% là các nguyên nhân gây độc cho thận như:
    • Bệnh miễn dịch (viêm cầu thận cấp)
    • Bệnh hệ thống (lupus ban đỏ hệ thống)
    • Bệnh đái tháo đường
    • Nhiễm độc (penicilamin, kim loại nặng)
    • Hoại tử do thuốc, hóa chất (aminosid, amphotericin B), mật cá trắm
    • Thiếu máu: do phẫu thuật, thuốc chống viêm không steroid, thuốc ức chế men chuyển, cyclosporin…
    • Tăng huyết áp
    • Tăng calci máu, hạ kali máu, tăng acid uric máu
  • Nguyên nhân sau thận: Sỏi oxalat, khối u, viêm tuyến tiền liệt, u buồng trứng…

Triệu chứng

Suy thận cấp do bất kỳ nguyên nhân nào gây ra nếu không được điều trị cũng diễn ra theo một trình tự biết trước gồm các giai đoạn:
  • Giai đoạn đái ít, vô niệu.
  • Giai đoạn đái trở lại (đái nhiều)
  • Giai đoạn hồi phục

Giai đoạn đái ít, vô niệu

  • Đái ít, vô niệu: có thể xuất hiện từ từ, lượng nước tiểu giảm dần rồi vô niệu nhưng vô niệu cũng có thể xuất hiện đột ngột.
  • Nito phi protein máu tăng: ure máu, creatinin máu, acid uric máu tăng cao, khi tăng quá cao có thể dẫn đến hội chứng ure máu cao trên lâm sàng: khó thở, buồn nôn, nôn, tiêu chảy, có thể hôn mê.
  • Rối loạn cân bằng nước, điện giải: phù, phù nhiều có thể dẫn tới suy tim, phù phổi cấp, phù não. Kali máu tăng gây rối loạn về dẫn truyền và trương lực, thường là nguyên nhân gây tử vong, biểu hiện là nhịp tim tăng, loạn nhịp, có thể ngừng tim, có thể yếu cơ, liệt cơ.
  • Toan máu chuyển hóa (pH máu giảm)
  • Tăng huyết áp vừa
  • Nước tiểu có hồng cầu, bạch cầu, trụ hạt tùy trường hợp.

Giai đoạn đái nhiều

  • Lượng nước tiểu tăng dần trên 2l/ngày, có khi trên 4-5l/ngày kéo dài khoảng 5-10 ngày gây mất nước, mất điện giải.

Giai đoạn hồi phục

  • Khối lượng nước tiểu dần trở về bình thường, biểu hiện lâm sàng tốt lên, các rối laonj sinh hóa dần bình thường. Giai đoạn phục hồi nhanh hay chậm phù hợp vào nguyên nhân gây bệnh nhưng trung bình kéo dài 6 tháng đến 1 năm.

Điều trị

Không có thuốc đặc trị để điều trị suy thận cấp, do đó mục tiêu điều trị là loại bỏ nguyên nhân, duy trì sự sống của bệnh nhân cho đến khi chức năng thận tự phục hồi. Tùy thuộc giai đoạn nhưng chú ý vào giai đoạn đái ít, vô niệu.

Mục tiêu điều trị:

  • Phát hiện, điều trị hoặc loại bỏ nguyên nhân.
  • Cân bằng dịch và điện giải.
  • Giảm các biến chứng của suy thận như hoại tử ống thận.
  • Hỗ trợ bệnh nhân trong giai đoạn vô niệu.
  • Tránh sử dụng thuốc độc với thận.

Điều trị nguyên nhân

Điều chỉnh các rối loạn nước, điện giải, toan máu
 Nước: lượng nước đưa vào cần tính toán tùy nguyên nhân, thích hợp từng giai đoạn bệnh:
Ở bệnh nhân vô niệu cần đảm bảo cân bằng âm tức là lượng nước đưa vào (ăn uống, truyền dịch) ít hơn lượng nước thải ra (nước tiểu, phân, chất nôn, mồ hôi, hơi thở, da, chuyển hóa). Thường đưa vào 500ml/ngày. Lọc máu ngoài thận được chỉ định khi vô niệu kéo dài trên 4 ngày.
Ở giai đoạn đái nhiều cần truyền dịch hoặc uống oresol để chống mất nước, điện giải.
 Hạn chế tăng Kali máu:
Hạn chế kali đưa vào: thức ăn nhiều kali như rau quả, thuốc, dịch truyền có kali.
Giải quyết các ổ hoại tử, chống nhiễm khuẩn.
Lợi tiểu mạnh thải kali như furrosemid (nếu bệnh nhân không mất nước, huyết áp tối đa >80mmHg)
Truyền glucose 30% 50ml + insulin 10 UI
Nhựa trao đổi ion như Kayexalate, Resonium A
Lọc máu ngoài thận khi kali máu > 6,5mmol/l
 Hạn chế tăng ure máu:
Chế độ ăn giảm đạm 0,4g/kg/ngày
Bổ sung viên Ketosteril
Loại bỏ các ổ nhiễm khuẩn
Lọc máu nếu ure máu >35mmol/l và/hoặc creatinin >600mcmol/l
 Chống toan máu:
Truyền NaHCO3 1,4% hoặc 4,2% hoặc tiêm NaHCO3 8,4% cải thiện tình trạng toan máu và làm giảm kali máu
Lọc máu khi có biểu hiện toan máu.

Thảo dược giúp thông tiểu, lợi niệu, tiêu phù

  • Cỏ mần trầu:  Tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, mát gan, giải độc, lợi tiểu, được dùng theo kinh nghiệm dân gian trong những trường hợp: sốt cao, co giật,  nóng trong người, đái vàng, da mẫn đỏ đái dầm.
  • Thổ phục linh: vị ngọt, nhạt, tính bình, có tác dụng tiêu độc, trừ phong thấp, mạnh gân xương, tán uất kết, thanh nhiệt, lợi thấp… Nó thường được dùng để chữa tê thấp, đau mỏi, lở ngứa, tiêu hóa kém, viêm thận, viêm bàng quang, lở ngứa, giang mai, viêm da mủ, giải độc thủy ngân và bạc, eczema (chàm) và một số bệnh ung thư.
  • Mã đề: có tính hàn, vị ngọt không độc, có công dụng làm mát huyết, thanh nhiệt, cầm máu, sáng mắt, tiêu bướu, thông tiểu tiện, bổ âm, dưỡng tinh dịch
  • Lá cối xay: vị hơi ngọt, tính bình, tác dụng thanh nhiệt, giải độc, long đờm và lợi tiểu.
  • Rễ cỏ tranh: vị ngọt, tính mát, có tác dụng lợi tiểu, giải nhiệt, chỉ huyết, mát huyết. Thường dùng trị sốt nóng khát nước, sốt vàng da mật (hoàng đản), tiểu tiện ít, đái buốt, đái dắt, đi tiểu ra máu, ho thổ huyết, chảy máu cam. Ở Thái Lan, rễ và thân rễ dùng trị sỏi niệu, đái ra máu, bạch đới. Ở Trung Quốc còn dùng trị cao huyết áp. Hoa dùng trị nôn ra máu; nếu sao cháy rồi sắc hay hãm uống làm thuốc cầm máu
  • Tầm gửi gạo: Mát gan, thải độc cho ngượi bị thận (Viêm cầu thận). Dùng cho người bị sỏi thận, phù thận, chức năng gan yếu thải độc men gan. Tăng thể lực cho người mệt mỏi, gây thèm ăn, dễ ngủ, tiêu phù.
Theo nguồn website tuelinh.vn


Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/tim-hieu-benh-than-man-tinh-446.html#ixzz3ZynOxhhN

Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2015

Thông báo nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và lễ 30/04 - 01/05


Thông báo nghỉ lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và lễ 30/04 - 01/05

Phòng Khám Đa Khoa Viện Gút thông báo thời gian và lịch nghỉ Lễ Giỗ Tổ Hùng Vương và Lễ 30/04 & 01/05 năm 2015 như sau:

- Nghỉ Lễ 04 ngày liên tục từ Thứ Ba ngày 28/04/2015 đến hết Thứ Sáu ngày 01/05/2015.

- Ngày 29/04/2015 là ngày làm việc nên sẽ được làm bù vào ngày Chủ nhật 26/04/2015,

- Thứ Bảy, ngày 02/05/2015 Các phòng khám của Viện Gút hoạt động lại bình thường.

Trong thời gian nghỉ lễ Quý bệnh nhân có những thắc mắc vui lòng liên hệ qua các đường dây nóng

Tại Tp. Hồ Chí Minh: 0982.180.080

Tại Hải Dương: 0984. 304.103

Kính chúc Quý Khách hàng và gia đình có những ngày nghỉ nhiều niềm vui và Hạnh Phúc!

Read more: http://phongkhamnamkhoaanhsang.blogspot.com/news/thong-bao-nghi-le-gio%CC%83-to%CC%89-hu%CC%80ng-vuong-va-le-30-04-01-05-443.html#ixzz3YHgjOMcw

Thứ Hai, 16 tháng 3, 2015

Xét nghiệm kiểm tra bệnh gout


Xét nghiệm kiểm tra bệnh gout

Xét nghiệm kiểm tra bệnh gout
Trong quá trình điều trị bệnh gút, chỉ số acid uric luôn luôn được theo dõi để có thể đánh giá nồng độ acid uric máu trong cơ thể người bệnh và ảnh hưởng của nó đến việc điều trị. Cũng cần phải khẳng định tăng acid uric chưa phải là tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh gút, đây chỉ là yếu tố cần được chú ý khi chẩn đoán gút. Gút là bệnh lắng đọng tinh thể muối urate natri trong cơ thể. Nguyên nhân gây kết tủa tinh thể muối urate natri là do tăng acid uric máu (> 7mg/dl đối với nam và >6mg/dl đối với nữ).

1. Acid uric máu

Uric acid là một hợp chất khác vòng của cácbon, nitơ, ôxi, và hyđrô với công thức C5H4N4O3. Nó tạo thành các ion và muối được gọi là urat và acid urat như ammonium acid urate. Acid uric được tạo thành trong cơ thể do quá trình thoái giáng các nhân purin, sau đó chúng được hòa tan trong máu và đưa đến thận và thải ra ngoài qua nước tiểu. Axit uric tăng có thể do quá trình tăng cung cấp, tăng tạo hoặc giảm thải trừ axit uric qua thận hoặc cả hai quá trình này. Acid uric được đào thải ra khỏi cơ thể qua: nước tiểu: từ 400 - 1.000 mg/ngày (là đường chủ yếu nhất); đường tiêu hoá: khoảng từ 100 - 200 mg/ngày. Acid uric trong cơ thể được tạo ra từ hai nguồn sau: Ngoại sinh: từ thức ăn đưa vào cơ thể có chứa chất purin: từ 100 - 200 mg/ngày; Nội sinh: do các tế bào chết của cơ thể sinh ra, khoảng 600 mg/ngày.



Khi nồng độ axit uric tăng cao kéo dài trong máu có thể dẫn đến một dạng viêm khớp được biết đến với tên bệnh gút. Tinh thể lắng đọng trong và xung quanh các khớp dẫn đến hậu quả viêm, sưng và đau khớp, lắng đọng dưới da tạo nên các hạt tophi, có thể tạo sỏi thận và suy thận.

2. Nguyên nhân tăng acid uric máu:

Có nhiều nguyên nhân gây tăng acid uric nhưng có thể sắp xếp thành 3 loại: Tăng sản xuất acid uric; giảm bài tiết acid uric; hỗn hợp giữa tăng sản xuất và giảm bài tiết acid uric.


Trong đó nhóm tăng sản xuất acid uric máu: Tăng acid uric máu tiên phát (80% người bị tăng acid uric không xác định được nguyên nhân), ăn nhiều thực phẩm chứa purin; các tổ chức bị phá huỷ (Vd: sau hoá trị liệu, xạ trị các khối u ác tính); gia tăng chuyển hóa tế bào (Vd: bệnh lơxêmi cấp, u lympho), thiếu máu do tan máu (Vd: sốt rét, bệnh hồng cầu hình liềm, thiếu G6PD); bị béo phì; nhịn đói.

Nhóm tăng acid uric trong máu do giảm đào thải acid uric qua thận: Do suy thận, tổn thương các ống thận xa; nghiện rượu cấp; do dùng thuốc lợi tiểu; do nhiễm toan lactic; do suy tim ứ huyết; do dùng kéo dài một số loại thuốc gây giảm thải acid uric qua nước tiểu như: dùng aspirin liều thấp, dùng thuốc lợi tiểu, dùng probenecid liều thấp, dùng phenylbutazon liều thấp.

Các nguyên nhân khác gây tăng acid uric máu như: Do tăng bạch cầu đơn nhân nhiễm trùng cấp (hay bệnh nhiễm virus Epstein-Barr); do nhiễm độc thai nghén và tiền sản giật; do suy cận giáp trạng; do suy giáp; do ngộ độc chì; do chấn thương.

3. Vai trò của xét nghiệm acid uric máu
Để chẩn đoán bệnh được chính xác, khi đi khám tại các cơ sở chuyên khoa Cơ Khương Khớp, các bác sĩ sẽ tiến hành chẩn đoán lâm sàng và chỉ định làm xét nghiệm cho bạn. Trong điều trị gút xét nghiệm máu bao gồm chỉ số acid uric sẽ được tiến hành thường xuyên trên bệnh nhân đến khám hoặc tái khám. Đây là việc làm cần thiết không thể bỏ qua.

Trong cơ thể acid uric là sản phẩm cuối cùng của chuyển hóa chất dinh dưỡng (chuyển hóa của hợp chất có tên purin), acid uric sinh ra chủ yếu được đào thải qua nước tiểu. Khi acid uric trong máu (gọi là acid uric huyết) tăng ở mức khoảng 7 đến 9mg/dl gọi là chứng tăng acid uric máu không triệu chứng. Lúc này cần phải kiểm soát và thực hiện chế độ ăn phù hợp. Khi acid uric máu đo được trên 9mg/dl, acid uric là chất ít tan sẽ kết tinh thành tinh thể muối urat đọng lại trong sụn, khớp đến mức gây đau đớn có khi là dữ dội ở các khớp gọi là cơn gút cấp, khi đó phải điều trị bằng các nhóm thuốc hạ nồng độ acid uric.

4. Khi nào cần xét nghiệm acid uric

Các trường hợp nên làm xét nghiệm acid uric trong máu:

- Chẩn đoán bệnh gút

- Nghi ngờ sỏi thận urat (do acid uric máu tăng cao gây lắng đọng tại thận);

- Đánh giá tác dụng của thuốc điều trị hạ acid uric máu

- Kiểm tra nồng độ acid uric trên bệnh nhân ung thư điều trị liệu pháp hóa học trị liệu hoặc phóng xạ, điều trị ung thư gây chết tế bào và làm tăng acid uric trong máu.



Nồng độ acid uric trong

Nam

Nữ


Máu

3,6 – 8,5 mg/dL hay 214 – 506 mol/L

2,3 – 6,6 mg/dL hay 137 – 393 mol/L


Nước tiểu

250 – 1000 mg/24h hay 1,5 – 5,9 mmol/24h


Mẫu nước tiểu lấy ngẫu nhiên

105 – 595 mg/g cretinin

95 – 740 mg/g cretinin


Dịch khớp

2-6 mg/dL hay 0,1 – 0,3 mmol/L


5. Chuẩn bị xét nghiệm acid uric trong máu

Không cần phải chuẩn bị gì trước khi làm xét nghiệm acid uric trong máu, có thể ăn uống bình thường trước khi làm xét nghiệm. Nếu trước ăn khoảng 4-8 tiếng thì càng tốt. Tuy nhiên cũng có một vài lưu ý trước xét nghiệm:

Các loại thuốc có thể làm thay đổi chỉ số acid uric trong máu và giảm kết quả xét nghiệm như: thuốc lợi tiểu, aspirin, vitamin C (ascorbic acid), aspirin liều thấp (75 to 100 mg hàng ngày), niacin, warfarin, Coumadin, cyclosporine, levodopa, tacrolimus, and một số thuốc điều trị leukemia, lymphoma, bệnh lao. Nên nói với bác sỹ về thuốc đang dùng.

Một số thức ăn giàu đạm làm tăng acid uric trong máu như nội tạng động vật (gan, não..), thịt đỏ (thịt bò, thịt bê …), hải sản … Đồ uống rượu bia cũng ảnh hưởng tới chuyển hóa acid uric trong máu. Do đó, 8 tiếng trước khi làm xét nghiệm acid uric, nên hạn chế dùng những thực phẩm, đồ uống trên.

Các trường hợp xét nghiệm máu mà có tăng acid uric nhưng trên lâm sàng không có biểu hiện của bệnh gút, bệnh nhân nên đến chuyên khoa cơ xương khớp để có được tư vấn thích hợp.

Nếu bạn cần sự hỗ trợ từ Phòng Khám Đa Khoa Viện Gút vui lòng liên hệ với chúng tôi theo thông tin:

Phòng khám Đa Khoa Viện Gút
Địa chỉ: 13A Hồng Hà, Phường 2, Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh

Điện thoại : 08 62968626

Điện thoại đường dây nóng : 0982. 180. 080
Website : http://benhgout.net Email : viengutvn@gmail.com

Những lưu ý trước khi làm xét nghiệm - X quang - Siêu âm