Thứ Tư, 29 tháng 8, 2012

Viện Gút- trung tâm điều trị bệnh gout tại Tp.HCM


Viện Gút- trung tâm điều trị bệnh gout tại Tp.HCM là nơi chuyên điều trị gút và các bệnh lý đi kèm với bệnh gout, Viện Gút Cung cấp các thông tin hữu ích về bệnh gout, tư vấn cho bệnh nhân gút, điều trị bệnh gout, và chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân gút, với các phương pháp điều trị bệnh gút mới nhất tại Viện Gút
http://www.benhgout.com

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

Bệnh gút (gout) là gì

Bệnh gút (gout) là gì

Bệnh gout là 1 dạng viêm khớp thể hiện qua những cơn đau, sưng khớp. điểm đặc thù là đau nhức, sưng, đỏ, và nóng cũng như cứng (khó cử động) trong 1 hay nhiều khớp. Không điều trị, các cơn đau cứ tái đi tái lại và có thể gây ra thương tổn khớp, gân, và các mô khác. Bệnh gout phổ biến nhất trong nam giới (trên 40).

Bệnh gout là một bệnh lý có lẽ được biết đến lâu đời nhất của loài người – đã hơn 2000 năm nay. Ngày xưa nó đuợc xem như là “bệnh của vua chúa” vì thường xuất hiện trên những người giàu sang với những đồ ăn thức uống của người giàu. Ngày nay người ta biết rõ rằng đây là một rối loạn phức tạp ảnh hưởng lên mọi người không chỉ riêng cho người giàu. Tại Việt Nam, hiện có đến hàng triệu người đang phải khổ sở vì bệnh này.
Bạn bị đánh thức đột ngột vào nửa đêm, nguyên ngân là ngón chân cái như bị lửa đốt. Nó nóng rát, sưng phồng, đau đớn và cảm giác nặng nề không thể chiu đựng nổi. Trường hợp này có lẽ bạn đang bị cơn gout cấp tính  (viêm khớp do gout) – một dạng viêm khớp đặc trưng bởi các cơn đau nặng nề, đột ngột, khớp sưng đỏ.
Nam giới thường mắc bệnh này nhiều hơn phụ nữ. Bệnh gout ở nữ thường xảy ra sau mãn kinh. Đây là một bệnh chữa trị được và có nhiều cách để phòng ngừa tái phát.
Dấu hiệu và triệu chứng :
Các triệu chứng gout hầu hết là cấp tính, xảy ra một cách đột ngột, thường vào ban đêm, không có triệu chứng báo trước. Gồm:
Đau khớp dữ dội. gout thường ảnh hưởng những khớp lớn trên ngón chân cái, nhưng cũng có thể ở khớp bàn chân, mắt cá chân, gối, bàn tay, cổ tay,…Cơn đau điển hình có thể kéo dài 5-10 ngày rồi ngưng. Khó chịu sẽ giảm dần dần sau 1-2 tuần, các khớp có vẻ không có gì bất thường.
Viêm đỏ. Các khớp bị sưng đỏ và đau.
Nguyên nhân :
Bệnh này do nồng độ acid uric trong máu tăng quá cao. Acid uric là một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của purin. Chất này có thể thấy trong tự nhiên như một số loại thực phẩm – tạng động vật như gan, não, thận, lách – và cá trồng, cá trích, cá thu. Purin cũng có trong tất cả các loại thịt, cá và gia cầm.
Thông thường thì acid uric bị phân hủy trong máu và được thải ra ngoài qua thận để ra nước tiểu. Nhưng đôi khi cơ thể bạn tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu quá ít. Hậu quả là acid uric trong máu tăng lên, tích lũy dần dần và lắng đọng thành những tinh thể sắc nhọn hình kim tại các khớp hoặc các bao quanh khớp gây ra triệu chứng đau đớn, viêm sưng khớp.
Một số tình trạng khác, gọi là giả gout, cũng có tình trạng lắng đọng tinh thể ở khớp nhưng không phải tinh thể acid uric mà là tinh thể calcium pyrophosphate dihydrate. Bệnh giả Gout cũng có thể gây đau khớp ngón chân cái tương tự Gout nhưng thường thì ở các khớp lớn hơn như gối, cổ tay hoặc mắt cá chân.

Yếu tố nguy cơ :

Những yếu tố hay hoàn cảnh sau có thể làm tăng acid uric máu cũng như tăng nguy cơ bệnh gout:
Lối sống. Thường nhất là uống nhiều cồn (alcohol), đặc biệt là bia. Uống nhiều nghĩa là hơn hai cốc ở nam và một cốc ở nữ mỗingày. N61u thể trọng tăng cao hơn cân nặng lý tưởng 15kg cũng làm tăng nguy cơ bệnh gout.
Một số bệnh lý và thuốc. Một số bệnh lý và thuốc điều trị cũng có thể làm bạn tăng nguy cơ bị gout, như tăng huyết áp, đái tháo đường, mỡ trong máu cao, hẹp lòng động mạch (do xơ vữa động mạch), phẫu thuật, các bệnh lý và tổn thương nặng, đột ngột, ít vận động,…cũng làm tăng acid uric máu. Một số thuốc như lợi tiểu thiazide (một thuốc điều trị tăng huyết áp bằng cách làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể), aspirin liều thấp và cyclosporine (một thuốc sử dụng cho những người được ghép mô để chống thải loại mảnh ghép). Hóa trị liệu trong một số bệnh như ung thư làm hủy diệt tế bào và phóng thích một lượng lớn purin vào máu.
Gen di truyền. Một phần tư số bệnh nhân bị gout có tiền sử gia đình bệnh này.
Tuổi và giới. Nam giới có tần suất bệnh cao hơn nữ. Phụ nữ có nồng độ acid uric máu thường thấp hơn nam, nhưng đến tuổi sau mãn kinh lại tăng lên. Nam thường bị Gout trong khoảng 30-50 tuổi, còn nữ từ 50-70.

 Biến chứng  :

Một số bệnh nhân bị gout tiến triển đến viêm khớp mạn tính, thường có sự thay đổi màu do lắng đọng các tinh thể dưới da cọi là sạn urat (tophi). Một số ít có thể bị sỏi thận.

 Điều trị bệnh gout:

Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) dùng làm giảm đau, kháng viêm trong các cơn gout cấp tính. Gồm các thuốc như: indomethacin (Indocin) hoặc các thuốc bán tự do ở nhà thuốc như Ibuprofen (Advil, Motrin,…). Bác sĩ cũng có thể kê toa cho bạn các kháng viêm steroid như prednisone.
Tuy nhiên hãy cẩn thận với các thuốc này và tham vấn ý kiến bác sĩ của bạn cụ thể cách dùng và thời gian dùng (thường chỉ nên dùng từ 3-10 ngày), vì nếu điều trị kéo dài chúng có thể gây các biến chứng như viêm loét và xuất huyết dạ dàt tá tràng.
Trường hợp bạn bị cơn Gout cấp, bác sĩ có thể cho bạn dùng Colchicin hoặc chích Cortisone thẳng vào khớp, đồng thời dùng các biện pháp điều trị ngăn ngừa nhằm hạ lượng acid uric trong máu của bạn.

 Phòng ngừa :

Hiện chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự khởi phát và tái phát của các cơn Gout. Nếu bạn bị Gout, bác sĩ của bạn sẽ cho bạn dùng một số thuốc giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu độ nặng của các cơn tái phát sau này. Các thuốc này gồm có Allopurinol (Zyloprim, Aloprim) và probenecid (Benemid), dùng hàng ngày giúp giảm nồng độ và tốc độ sản xuất acid uric. Việc duy trì nồng độ acid uric ổn định ở giới hạn bình thường là cách ngăn ngừa bệnh Gout lâu dài và hiệu quả nhất.

 Tự chăm sóc bản thân :

 Thay đổi lối sống không thể điều trị bệnh Gout, nhưng rất hữu ích để hỗ trợ điều trị. Các biện pháp sau giúp giảm và ngăn ngừa triệu chứng :
Giảm béo. Duy trì cân nặng hợp lý bằng cách giảm cân từ từ giúp giảm nồng độ acid uric máu, đồng thời giảm bới sự chịu đựng sức nặng của các khớp. Tuy nhiên không nên nhịn đói để giảm cân nhanh vì như vậy lại càng làm tăng acid uric máu.
Tránh ăn quá nhiều đạm động vật. Đây là nguồn chứa nhiều purin. Các thực phẩm chứa nhiều purin như tạng động vật (gan, thận, não, lách), cá trồng, cá trích, cá thu,…các loại thịt, cá, gia cầm chứa ít purin hơn.
Giới hạn hoặc tránh rượu. Uống quá nhiều rượu làm giảm bài tiết acid uric. Giới hạn dưới hai cốc mỗi ngày nếu bạn là nam, môt cốc nếu bạn là nữ. Nếu bạn đang bị Gout, tốt nhất nên tránh hoàn toàn rượu bia.
Ăn uống nhiều nước, chất lỏng. Dịch làm pha loãng nồng độ acid uric trong máu bạn.
Bs Phạm Xuân Hậu

Thứ Ba, 21 tháng 8, 2012

Viện Gút thành công trong điều trị bệnh gút

Hơn 60% bệnh nhân gút (gout) khi nhập viện đã chuyển sang giai đoạn gút mạn tính, kèm theo suy giảm chức năng gan, suy thận, rối loạn mỡ máu, tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành…
Theo GS-TS-BS Hoàng Khải Lập, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Bệnh Gút (trực thuộc Viện Gút): Gút là một bệnh khớp có thể điều trị được nhưng đã bị điều trị cẩu thả nhất. Điều trị cẩu thả nhất ở đây không phải là không có thuốc tốt để kiểm soát các cơn gút cấp tái phát mà do chủ quan, nhiều bệnh nhân cẩu thả trong dùng thuốc, cẩu thả trong sinh hoạt ăn uống để bệnh tiến triển nặng…
Sau gút, gan, thận sẽ biến chứng nặng
Bệnh nhân gút mạn tính khi biến chứng nặng thường có rất nhiều u cục tophi ở bàn tay, bàn chân, khuỷu tay gây biến dạng khớp. Nhiều trường hợp tophi vỡ không liền miệng kéo dài gây nhiễm trùng, có trường hợp đã phải tháo khớp. Trên bệnh nhân gút đã bị biến chứng thường kèm theo tình trạng suy giảm chức năng gan, suy thận, sỏi thận, rối loạn mỡ máu, tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành…
Đơn cử, ông Huỳnh Công Tâm (1955, ngụ thị trấn Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh) bị bệnh gút đã 12 năm nay, từng đi điều trị ở rất nhiều nơi, cả Đông và Tây y nhưng bệnh tình vẫn ngày càng nặng hơn. Bà Nguyễn Kim Huê, vợ ông Tâm cho biết: “Khi nằm cấp cứu ở bệnh viện họ nói rằng 10 phần chết đủ rồi nhưng họ không nói thẳng với mình”. Khi đến với Viện Gút, ông Tâm đã trong tình trạng suy kiệt, chân tay teo nhỏ lại, chỉ còn 38 kg, đau nhức triền miên, sốt cao kéo dài. Ngoài bệnh gút, ông còn bị thiếu máu nặng và có dấu hiệu suy tim do suy mạch vành, bị tụt huyết áp, suy giảm chức năng gan, suy thận, thoái hóa khớp. Sau hơn năm tháng điều trị ngoại trú theo phương pháp toàn diện có kiểm soát của Viện Gút, ông Tâm đã có một sự phục hồi kỳ diệu, tăng được 11 kg, hết đau nhức, đã bắt đầu trở lại với nghề rửa xe để kiếm sống. Gặp lại gần đây, bà Huê nói: “Bây giờ thì đã phục hồi như cũ, kể như từ cõi chết trở về, mừng quá không biết làm sao diễn tả nữa”.

Bệnh nhân Huỳnh Công Tâm trước (ảnh trên) và sau điều trị bệnh gút tại Viện Gút.
Theo BS Nguyễn Hồng Thu, Giám đốc Viện Gút, thống kê cho thấy trong hơn 60% bệnh nhân khi đến các phòng khám của Viện Gút thì đã chuyển sang giai đoạn gút mạn tính, có nhiều u cục tophi, kèm theo suy giảm chức năng gan, suy thận, sỏi thận, rối loạn mỡ máu, tiểu đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, viêm loét dạ dày, tá tràng… Trong đó khoảng 5% đã bị biến chứng nặng như phù nề, giữ nước, loãng xương, các khớp bị phá hủy gây biến dạng khớp, tophi vỡ khiến nhiễm trùng kéo dài. Số bệnh nhân này cũng bị kháng trị tất cả loại thuốc điều trị gút hiện có. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do lạm dụng các loại thuốc giảm đau không rõ nguồn gốc có Dexamethason.
Chớ nên chủ quan
Theo các chuyên gia y tế, tình trạng lạm dụng thuốc giảm đau để điều trị bệnh gút là đáng báo động. Trong cộng đồng, kể cả một số trong giới chuyên môn vẫn coi tăng acid uric máu là bệnh gút nên gây ra lạm dụng thuốc và điều trị quá mức. GS-TS-BS Hoàng Khải Lập, cho biết nước ta đang tồn tại một thực trạng đáng lo ngại bởi rất ít bệnh nhân gút điều trị liên tục theo một bác sĩ để được kiểm soát. Do nôn nóng trong điều trị, nhiều người đi khắp các bệnh viện cho đến khi bế tắc thì họ lại tự tìm mua thuốc điều trị, ai mách ở đâu có thuốc “tốt” cũng mua về uống mà không cần tìm hiểu nguồn gốc và công dụng chính xác của thuốc.
Cũng theo GS Hoàng Khải Lập, những bệnh nhân gút bị biến chứng, kháng trị với các loại thuốc điều trị gút chưa phải đã hết thuốc chữa, họ vẫn có thể đáp ứng và phục hồi tốt nếu hỗ trợ điều trị bằng thảo dược. Kết quả điều trị không chỉ phụ thuộc vào thuốc mà còn phụ thuộc vào việc kiểm soát điều trị, trong đó sự tự giác tuân thủ, phối hợp và kiên trì điều trị của bệnh nhân vẫn là yếu tố quan trọng nhất để chiến thắng bệnh gút.
4,2% bệnh nhân kháng trị các loại thuốc

Thống kê tại Mỹ cho thấy hiện nước này có tới 2,1 triệu người bị gút, trong đó 4,2% bệnh nhân gút mạn tính đã bị kháng trị với tất cả loại thuốc điều trị hiện có. Theo các chuyên gia, trong khi tình hình bệnh nhân gút đang tăng nhanh tại Việt Nam cũng như trên thế giới thì hầu như chưa có một cơ sở y tế nào điều trị chuyên sâu về nó. Vì vậy việc có một đơn vị y tế chuyên sâu về gút là rất cần thiết.
Các phòng khám đa khoa của Viện Gút: 98 Yên Thế, phường 2, quận Tân Bình, TP.HCM; D22-23 phố Hồng Châu, TP Hải Dương; 125 Ông Ích Khiêm, TP Đà Nẵng. Website: www.benhgout.net . Điện thoại tư vấn bệnh gút: (08)6296.8626.
theo báo pháp luật

Thứ Hai, 13 tháng 8, 2012

Nguyên tắc điều trị bệnh Gout


Dùng thuốc điều trị bệnh gout

- Chống viêm khớp trong các đợt cấp.
- Hạ acid uric máu để phòng những đợt viêm khớp cấp tái phát, ngăn ngừa biến chứng.

dinh duong trong dieu tri gut Nguyên tắc điều trị bệnh Gout

- Điều trị các bệnh lý kèm theo đặc biệt là nhóm các bệnh lý rối loạn chuyển hóa như: tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu, béo phì…
- Cần điều trị viêm khớp cấp trước. Chỉ sau khi tình trạng viêm khớp đã hết hoặc thuyên giảm mới bắt đầu dùng thuốc hạ aicd uric máu.
- Để điều trị có hiệu quả cần thường xuyên kiểm tra acid uric máu và niệu, kiểm tra chức năng thận.
Điều trị cơn gout cấp tính 
Thuốc điều trị đợt gout cấp là thuốc chống viêm không steroid, colchicin, corticosteroid, trong đó thuốc chống viêm không steroid được ưu tiên lựa chọn hàng đầu. Sử dụng thuốc tùy theo bệnh nhân và các bệnh lý kèm theo như bệnh thận hay dạ dày tá tràng.
 - Thuốc chống viêm không steroid: Đây là thuốc được lựa chọn hàng đầu để điều trị đợt gout cấp ở hầu hết bệnh nhân. Tuy nhiên, đối với người cao tuổi và người có bệnh kèm theo, cần thận trọng, cân nhắc khi dùng, chỉ nên sử dụng thuốc này trong thời gian  ngắn  và với liều thấp. Thuốc cần tránh dùng đối với bệnh nhân bị bệnh thận, viêm loét dạ dày, tá tràng hay bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông.
 - Colchicin : là thuốc chống phân bào, được chiết xuất từ rễ cỏ Colchicum autumnal, là thuốc điều trị Gout lâu đời nhất. Người ta đã sử dụng chiết xuất từ loại cỏ này để điều trị gout từ 600 năm trước công nguyên. Do thuốc có ái lực đặc biệt với bạch cầu đa nhân trung tính nên nó làm giảm sự di chuyển của các bạch cầu, ức chế thực bào các vi tinh thể muối urat và do đó làm ngừng sự tạo thành các acid lactic, giữ cho độ pH tại chỗ được bình thường, bởi vì độ pH là yếu tố tạo điều kiện cho các tinh thể urat mononatri kết tủa tại các mô ở khớp. Thuốc không có tác dụng lên sự thải trừ acid uric theo nước tiểu cũng như lên nồng độ, độ hòa tan hay khả năng gắn với protein huyết thanh của acid uric hay urat nên không làm thay đổi nồng độ acid uric máu. Tuy nhiên, thuốc có nhiều tác dụng phụ không mong muốn, đứng đầu là các rối loạn dạ dày, ruột như tiêu chảy, nôn, đau bụng. Hiếm gặp hơn là các phản ứng dị ứng da, rụng tóc, các bệnh cơ. Việc dùng thuốc kéo dài có thể dẫn tới suy tủy xương.
 - Corticosteroid : Trong một số trường hợp đặc biệt, với mục đích điều trị cơn gout cấp có thể sử dụng corticoid đường uống ngắn ngày hoặc đường tiêm nội khớp. Nhưng do thuốc có nhiều tác dụng phụ và do tình trạng lạm dụng thuốc ở nước ta nên thuốc này không được khuyến khích sử dụng.
 Điều trị dự phòng cơn gout cấp tái phát 
 Mục tiêu điều trị dự phòng cơn gout cấp là giảm acid uric máu, hạn chế sự lắng đọng urat trong mô và tổ chức từ đó hạn chế được các cơn gout tái phát và ngăn ngừa hình thành gout mạn tính.
 - Colchicin : Được sử dụng lần đầu năm 1936 để dự phòng cơn gout cấp tái phát nhưng không dự phòng được lắng đọng urat về sau hay sự phát triển các hạt tophi.
 - Các thuốc hạ acid uric máu: Có nhiều loại thuốc hạ acid uric máu. Tùy theo cơ chế tác dụng của thuốc tác động vào khâu nào của quá trình chuyển hóa acid uric trong cơ thể mà người ta chia ra 3 nhóm: Nhóm ức chế tổng hợp, nhóm tăng thải và nhóm làm tiêu acid uric.
 Điều trị gout mạn tính
Mục tiêu điều trị gout mạn tính là điều trị giảm acid uric máu để tránh biến chứng suy thận mạn. Thường sử dụng nhóm  thuốc ức chế tổng hợp acid uric và có thể kết hợp dùng thêm colchicin tùy theo trường hợp. Có thể sử dụng thuốc chống viêm không steroid cho những bệnh nhân viêm khớp còn đang tiến triển.
Nếu có tổn thương thận phải chú ý đến tình trạng nhiễm khuẩn (viêm thận kẽ), tình trạng suy thận tiềm tàng, cao huyết áp, Sỏi thận,… tiên lượng của bệnh gout tùy thuộc vào mức độ tổn thương thận.
Một số u cục (tôphi) quá to cản trở vận động có thể chỉ định phẫu thuật cắt bỏ (tôphi ở ngón chân cái không đi giày được, ở khuỷu tay khó mặc áo,…)

Thứ Ba, 7 tháng 8, 2012

Chế độ dinh dưỡng cho bệnh nhân Gout

(Viện- Gút ) Có thể nói nguyên nhân trực tiếp gây bệnh gút (thống phong) là acid uric. Một trong những biện pháp phòng chống acid uric trong máu tăng cao là dùng các thực phẩm không hoặc ít có nhân purin và có công dụng tăng cường đào thải acid uric qua đường tiết niệu.
 
Những thức ăn không có lợi cho người bị bệnh Gout :
thức ăn cho bệnh nhân gút
 
Trong cơ thể, acid uric được tạo thành từ ba nguồn: thoái giáng từ các chất có nhân purin do thức ăn đưa vào, thoái giáng các chất có nhân purin từ trong cơ thể và tổng hợp các purin từ con đường nội sinh.
 
Do đó, người có acid uric máu cao nên kiêng hoặc hạn chế các thực phẩm chứa nhiều nhân purin như phủ tạng động vật (gan, thận, não, tụy...), các loại thịt có màu đỏ, các loại hải sản, nấm, đậu... Không dùng các đồ ăn thức uống có tính kích thích như trà đặc, cà phê, rượu trắng, hạt tiêu, hồi, quế, ớt... 
 
Một số thực phẩm có lợi cho bệnh nhân Gout: 
 
Người bị gút nặng, acid uric máu tăng quá cao nên ăn chay theo chu kỳ như ngày ăn táo, ngày ăn dưa chuột, ngày ăn rau xanh để hỗ trợ điều trị bệnh. Nếu ăn táo hoặc dưa chuột mỗi ngày dùng 1,5kg, chia thành 3-4 bữa. Nếu ăn rau xanh mỗi ngày 1,5kg chia thành nhiều bữa dưới các dạng nấu, xào hoặc làm nộm. 
chế độ dinh dưỡng cho người bị bệnh gout
 
Rau cần: cần trồng dưới nước tính mát, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt lợi thủy. Cần trồng trên cạn tính mát, vị đắng ngọt, có công dụng thanh nhiệt, khu phong và lợi thấp. Có thể dùng cả hai loại, đặc biệt tốt trong giai đoạn gút cấp tính. Rau cần giàu các sinh tố, khoáng chất và hầu như không chứa nhân purin. Có thể ăn sống, ép lấy nước uống hoặc nấu canh ăn hằng ngày. 
 
Súp lơ: là một trong những loại rau chứa ít nhân purin (mỗi 100g chỉ có dưới 75mg). Theo dinh dưỡng học cổ truyền, súp lơ tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt, lợi tiểu, thông tiện nên là thực phẩm thích hợp cho người có acid uric máu cao. 
 
Dưa chuột (Dưa leo): là loại rau kiềm tính. Theo dinh dưỡng học cổ truyền, dưa chuột tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt, giải độc nên có khả năng bài tiết tích  acid uric qua đường tiết niệu. 
 
Cải xanh: cũng là loại rau kiềm tính, và hầu như không chứa nhân purin. Cải xanh có tác dụng giải nhiệt trừ phiền, thông lợi tràng vị. Sách Trấn nam bản thảo cho rằng cải xanh còn có tác dụng lợi tiểu, rất thích hợp với người bị bệnh gút. 
 
Cà: cà pháo, cà bát, cà tím... đều có tác dụng hoạt huyết tiêu thũng, khứ phong thông lạc, thanh nhiệt chỉ thống. Đây cũng là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin. Nghiên cứu hiện đại cho thấy cà còn có tác dụng lợi niệu ở một mức độ nhất định. 
 
Cải bắp: là loại rau hầu như không có nhân purin,  Sách Bản thảo cương mục thập di cho rằng cải bắp có công dụng "bổ tinh tủy, lợi ngũ tạng lục phủ, lợi quan tiết (có ích cho khớp), thông kinh hoạt lạc" nên là thực phẩm rất tốt cho người có acid uric trong máu cao. 
 
Củ cải: tính mát, vị ngọt, có công dụng lợi quan tiết, hành phong khí, trừ tà nhiệt (Thực tính bản thảo), trừ phong thấp (Tùy tức cư ẩm thực phổ), rất thích hợp với người bị phong thấp nói chung và thống phong nói riêng. Đây cũng là loại rau kiềm tính, giàu sinh tố, nhiều nước và hầu như không có nhân purin. 
 
Khoai tây: là một thực phẩm kiềm tính, giàu muối kali. Trong thành phần hóa học hầu như không có nhân purin. 
 
Bí đỏ: tính ấm, vị ngọt, công dụng bổ trung ích khí, giảm mỡ máu và hạ đường huyết, là loại thực phẩm kiềm tính và hầu như không chứa nhân purin, lý tưởng cho người bị cao huyết áp, rối loạn lipid máu, béo phì và tăng acid uric trong máu. 
 
Bí xanh: tính mát, vị ngọt đạm, có tác dụng thanh nhiệt tiêu đàm, lợi tiểu tiện, giải độc, giảm béo. Là loại thực phẩm kiềm tính, nhiều nước và chứa rất ít nhân purin, có khả năng thanh thải acid uric qua đường tiết niệu khá tốt. 
 
Dưa hấu: tính lạnh, vị ngọt, có công dụng thanh nhiệt giải thử, trừ phiền chỉ khát và lợi tiểu tiện. Trong thành phần có chứa nhiều muối kali, nước và hầu như không có nhân purin. Đây là loại quả đặc biệt tốt cho những người bị gút giai đoạn cấp tính. 
 
Đậu đỏ: còn gọi là xích tiểu đậu, tính bình, vị ngọt chua, có công dụng kiện tỳ chỉ tả, lợi niệu tiêu thũng. Trong thành phần hóa học của đậu đỏ hầu như không có nhân purin, là thực phẩm rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gút. 
 
Lê và táo: hai loại quả tính mát, vị ngọt, công dụng thanh nhiệt sinh tân, chỉ khát trừ phiền. Trong thành phần có chứa nhiều nước, sinh tố, muối kali và hầu như không có nhân purin. Là loại quả kiềm tính, dùng rất tốt cho bệnh nhân bị bệnh gút cấp tính và mãn tính. 
 
Nho: tính bình, vị ngọt, công dụng bổ khí huyết, cường gân cốt và lợi tiểu tiện. Đây cũng là loại quả kiềm tính, nhiều nước, giàu sinh tố và hầu như không có nhân purin. 
 
Sữa bò: là loại thực phẩm bổ dưỡng giàu chất đạm, nhiều nước và chứa rất ít nhân purin. Là thứ nước uống lý tưởng cho bệnh nhân bị bệnh gút cả cấp tính và mãn tính.

Thứ Năm, 2 tháng 8, 2012

Suy thận, suy gan do bệnh gút biến chứng-Benh gut |Suc khoe doi song

Hơn 60% bệnh nhân gút khi nhập viện đã chuyển sang giai đoạn mãn tính kèm suy giảm chức năng gan, suy thận, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành…
Bệnh nhân gút mãn tính khi biến chứng nặng thường có rất nhiều u cục tophi  ở bàn tay, bàn chân, khuỷu tay gây biến dạng khớp. Nhiều trường hợp tophi vỡ không liền miệng kéo dài gây nhiễm trùng, có trường hợp đã phải tháo khớp. Trên bệnh nhân gút đã bị biến chứng thường kèm theo tình trạng suy giảm chức năng gan, suy thận, sỏi thận, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành…
Suy thận, suy gan do bệnh gút biến chứng, Sức khỏe đời sống, Benh gut, benh gut man tinh, nhiem trung, thao khop, suy gan, suy than, soi than, roi loan mo mau, dai thao duong, suc khoe, bao.
Bệnh nhân Trần Thị Th. (quận 2 - TPHCM) trước điều trị (ngày 28-12-2010) và sau điều trị (ngày 27-6-2011)
Phù nề, biến dạng
Nhiều năm qua, bà Trần Thị Th. (52 tuổi, ngụ quận 2-TPHCM) cảm thấy cơ thể đau nhức triền miên, viêm khớp, toàn thân phù nề. Cuối năm 2010, bà đến phòng khám của Viện Gút điều trị trong tình trạng nguy kịch: suy thận, phù nề, giữ nước, đã nổi nhiều cục tophi, các ngón tay biến dạng. Qua tìm hiểu, các bác sĩ (BS) ghi nhận bệnh nhân lạm dụng thuốc corticoid (chống viêm, dị ứng) mỗi lần đau nhức. Sau hơn một tháng  điều trị tích cực, bà Th. đã vượt qua giai đoạn nguy hiểm, hết phù nề, giữ nước và sau hơn 6 tháng điều trị, sức khỏe đã phục hồi trở lại, đi vào ổn định. Khi các cơn gút cấp không còn tái phát, chân và tay đã cử động dễ dàng, bà Th. đã lao động bình thường trở lại.
Theo BS Nguyễn  Hồng Thu, Giám đốc Viện Gút, thống kê cho thấy hơn 60% bệnh nhân khi đến các phòng khám của Viện Gút đã chuyển sang giai đoạn gút mãn tính có nhiều u cục tophi kèm theo suy giảm chức năng gan, suy thận, sỏi thận, rối loạn mỡ máu, đái tháo đường, tăng huyết áp, bệnh mạch vành, viêm loét dạ dày, tá tràng… Trong đó khoảng 5% đã bị biến chứng nặng như phù nề, giữ nước, loãng xương, các khớp bị phá hủy gây biến dạng khớp, tophi vỡ khiến nhiễm trùng kéo dài. Số bệnh nhân này cũng bị kháng trị tất cả các loại thuốc điều trị gút hiện có. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do lạm dụng các loại thuốc giảm đau không rõ nguồn gốc có dexamethason.
Chớ nên chủ quan
Theo các chuyên gia y tế, tình trạng lạm dụng thuốc giảm đau để điều trị bệnh gút là đáng báo động. Trong cộng đồng, kể cả một số trong giới chuyên môn, vẫn coi tăng acid uric máu là bệnh gút nên gây ra lạm dụng thuốc và điều trị quá mức.
GS-TS-BS Hoàng Khải Lập, Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu bệnh gút (trực thuộc Viện Gút), cho biết đang tồn tại một thực trạng đáng lo ngại là rất ít bệnh nhân gút điều trị liên tục theo một BS để được kiểm soát. Do nôn nóng trong điều trị, nhiều người đi khắp các bệnh viện, khi bế tắc, họ tự tìm mua thuốc điều trị, ai mách ở đâu có thuốc “tốt” cũng mua về uống mà không cần tìm hiểu nguồn gốc và công dụng thực.
Những bệnh nhân gút bị biến chứng, kháng trị với các loại thuốc điều trị gút chưa phải đã hết thuốc chữa, họ vẫn có thể đáp ứng và phục hồi tốt nếu hỗ trợ điều trị bằng thảo dược. Kết quả điều trị không chỉ phụ thuộc vào thuốc mà còn phụ thuộc vào việc kiểm soát điều trị, trong đó sự tự giác tuân thủ, phối hợp và kiên trì điều trị của bệnh nhân vẫn là yếu tố quan trọng nhất để chiến thắng bệnh gút.
“Gút là một bệnh khớp hầu như có thể điều trị được nhưng việc điều trị diễn ra cẩu thả. Điều trị cẩu thả ở đây không phải là không có thuốc tốt để kiểm soát các cơn gút cấp tái phát mà do chủ quan, nhiều bệnh nhân cẩu thả trong dùng thuốc, cẩu thả trong sinh hoạt, ăn uống để bệnh tiến triển nặng”- GS Hoàng Khải Lập nhận định.
4,2% bệnh nhân kháng trị các loại thuốc
Thống kê tại Mỹ cho thấy hiện nước này có 2,1 triệu người bị gút, trong đó 4,2% bệnh nhân gút mãn tính đã kháng trị với tất cả các loại thuốc điều trị hiện có. Trong khi tình hình bệnh nhân gút đang tăng nhanh tại Việt Nam cũng như trên thế giới thì hầu như chưa có cơ sở y tế nào điều trị chuyên sâu về nó. Vì vậy, việc có một đơn vị y tế chuyên sâu về gút là rất cần thiết.

Thứ Tư, 1 tháng 8, 2012

Acid Uric và bệnh gút

Acid Uric và bệnh gút

Khi nói tới bệnh Gút hầu như đều đỗ dồn sự quan tâm tới acid uric. Đối với bệnh nhân Gút acid uric chỉ là một trong số những chất tham gia vào sự hình thành nên muối urat, kết tủa tại khớp, các tổ chức dưới da, trong ống thận, trong lòng mạch. Dù muối urat đã kết tủa tại khớp nó cũng chỉ là những tác nhân nguy cơ gây ra cơn gút cấp. Còn rất nhiều điều kiện khác mới có thể gây ra cơn gút cấp, nhưng có lẽ sai lầm lớn nhất là cả những người mới bị gút và cả những bệnh nhân gút đã bị biến chứng là chỉ quan tâm đến giải quyết triệu chứng mà quên mất rằng còn cần phải giải quyết hậu quả do gút để lại và ngăn chặn các tác nhân ngoại sinh có thể làm cho bệnh gút phát triển nhanh hơn, các tác nhân ngoại sinh ấy từ ăn uống, từ tác dụng phụ các loại thuốc điều trị nhiều bệnh khác nhau từ nhiễm độc chì, nhiễm độc Asen trong nguồn nước ăn uống.