Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh gout là gì?. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bệnh gout là gì?. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 22 tháng 8, 2012

Bệnh gút (gout) là gì

Bệnh gút (gout) là gì

Bệnh gout là 1 dạng viêm khớp thể hiện qua những cơn đau, sưng khớp. điểm đặc thù là đau nhức, sưng, đỏ, và nóng cũng như cứng (khó cử động) trong 1 hay nhiều khớp. Không điều trị, các cơn đau cứ tái đi tái lại và có thể gây ra thương tổn khớp, gân, và các mô khác. Bệnh gout phổ biến nhất trong nam giới (trên 40).

Bệnh gout là một bệnh lý có lẽ được biết đến lâu đời nhất của loài người – đã hơn 2000 năm nay. Ngày xưa nó đuợc xem như là “bệnh của vua chúa” vì thường xuất hiện trên những người giàu sang với những đồ ăn thức uống của người giàu. Ngày nay người ta biết rõ rằng đây là một rối loạn phức tạp ảnh hưởng lên mọi người không chỉ riêng cho người giàu. Tại Việt Nam, hiện có đến hàng triệu người đang phải khổ sở vì bệnh này.
Bạn bị đánh thức đột ngột vào nửa đêm, nguyên ngân là ngón chân cái như bị lửa đốt. Nó nóng rát, sưng phồng, đau đớn và cảm giác nặng nề không thể chiu đựng nổi. Trường hợp này có lẽ bạn đang bị cơn gout cấp tính  (viêm khớp do gout) – một dạng viêm khớp đặc trưng bởi các cơn đau nặng nề, đột ngột, khớp sưng đỏ.
Nam giới thường mắc bệnh này nhiều hơn phụ nữ. Bệnh gout ở nữ thường xảy ra sau mãn kinh. Đây là một bệnh chữa trị được và có nhiều cách để phòng ngừa tái phát.
Dấu hiệu và triệu chứng :
Các triệu chứng gout hầu hết là cấp tính, xảy ra một cách đột ngột, thường vào ban đêm, không có triệu chứng báo trước. Gồm:
Đau khớp dữ dội. gout thường ảnh hưởng những khớp lớn trên ngón chân cái, nhưng cũng có thể ở khớp bàn chân, mắt cá chân, gối, bàn tay, cổ tay,…Cơn đau điển hình có thể kéo dài 5-10 ngày rồi ngưng. Khó chịu sẽ giảm dần dần sau 1-2 tuần, các khớp có vẻ không có gì bất thường.
Viêm đỏ. Các khớp bị sưng đỏ và đau.
Nguyên nhân :
Bệnh này do nồng độ acid uric trong máu tăng quá cao. Acid uric là một sản phẩm phụ tạo ra do sự thoái giáng của purin. Chất này có thể thấy trong tự nhiên như một số loại thực phẩm – tạng động vật như gan, não, thận, lách – và cá trồng, cá trích, cá thu. Purin cũng có trong tất cả các loại thịt, cá và gia cầm.
Thông thường thì acid uric bị phân hủy trong máu và được thải ra ngoài qua thận để ra nước tiểu. Nhưng đôi khi cơ thể bạn tạo ra quá nhiều acid uric hoặc thải acid này ra nước tiểu quá ít. Hậu quả là acid uric trong máu tăng lên, tích lũy dần dần và lắng đọng thành những tinh thể sắc nhọn hình kim tại các khớp hoặc các bao quanh khớp gây ra triệu chứng đau đớn, viêm sưng khớp.
Một số tình trạng khác, gọi là giả gout, cũng có tình trạng lắng đọng tinh thể ở khớp nhưng không phải tinh thể acid uric mà là tinh thể calcium pyrophosphate dihydrate. Bệnh giả Gout cũng có thể gây đau khớp ngón chân cái tương tự Gout nhưng thường thì ở các khớp lớn hơn như gối, cổ tay hoặc mắt cá chân.

Yếu tố nguy cơ :

Những yếu tố hay hoàn cảnh sau có thể làm tăng acid uric máu cũng như tăng nguy cơ bệnh gout:
Lối sống. Thường nhất là uống nhiều cồn (alcohol), đặc biệt là bia. Uống nhiều nghĩa là hơn hai cốc ở nam và một cốc ở nữ mỗingày. N61u thể trọng tăng cao hơn cân nặng lý tưởng 15kg cũng làm tăng nguy cơ bệnh gout.
Một số bệnh lý và thuốc. Một số bệnh lý và thuốc điều trị cũng có thể làm bạn tăng nguy cơ bị gout, như tăng huyết áp, đái tháo đường, mỡ trong máu cao, hẹp lòng động mạch (do xơ vữa động mạch), phẫu thuật, các bệnh lý và tổn thương nặng, đột ngột, ít vận động,…cũng làm tăng acid uric máu. Một số thuốc như lợi tiểu thiazide (một thuốc điều trị tăng huyết áp bằng cách làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể), aspirin liều thấp và cyclosporine (một thuốc sử dụng cho những người được ghép mô để chống thải loại mảnh ghép). Hóa trị liệu trong một số bệnh như ung thư làm hủy diệt tế bào và phóng thích một lượng lớn purin vào máu.
Gen di truyền. Một phần tư số bệnh nhân bị gout có tiền sử gia đình bệnh này.
Tuổi và giới. Nam giới có tần suất bệnh cao hơn nữ. Phụ nữ có nồng độ acid uric máu thường thấp hơn nam, nhưng đến tuổi sau mãn kinh lại tăng lên. Nam thường bị Gout trong khoảng 30-50 tuổi, còn nữ từ 50-70.

 Biến chứng  :

Một số bệnh nhân bị gout tiến triển đến viêm khớp mạn tính, thường có sự thay đổi màu do lắng đọng các tinh thể dưới da cọi là sạn urat (tophi). Một số ít có thể bị sỏi thận.

 Điều trị bệnh gout:

Thuốc kháng viêm không steroid (NSAIDs) dùng làm giảm đau, kháng viêm trong các cơn gout cấp tính. Gồm các thuốc như: indomethacin (Indocin) hoặc các thuốc bán tự do ở nhà thuốc như Ibuprofen (Advil, Motrin,…). Bác sĩ cũng có thể kê toa cho bạn các kháng viêm steroid như prednisone.
Tuy nhiên hãy cẩn thận với các thuốc này và tham vấn ý kiến bác sĩ của bạn cụ thể cách dùng và thời gian dùng (thường chỉ nên dùng từ 3-10 ngày), vì nếu điều trị kéo dài chúng có thể gây các biến chứng như viêm loét và xuất huyết dạ dàt tá tràng.
Trường hợp bạn bị cơn Gout cấp, bác sĩ có thể cho bạn dùng Colchicin hoặc chích Cortisone thẳng vào khớp, đồng thời dùng các biện pháp điều trị ngăn ngừa nhằm hạ lượng acid uric trong máu của bạn.

 Phòng ngừa :

Hiện chưa có cách nào chắc chắn để ngăn ngừa sự khởi phát và tái phát của các cơn Gout. Nếu bạn bị Gout, bác sĩ của bạn sẽ cho bạn dùng một số thuốc giúp ngăn ngừa hoặc làm giảm thiểu độ nặng của các cơn tái phát sau này. Các thuốc này gồm có Allopurinol (Zyloprim, Aloprim) và probenecid (Benemid), dùng hàng ngày giúp giảm nồng độ và tốc độ sản xuất acid uric. Việc duy trì nồng độ acid uric ổn định ở giới hạn bình thường là cách ngăn ngừa bệnh Gout lâu dài và hiệu quả nhất.

 Tự chăm sóc bản thân :

 Thay đổi lối sống không thể điều trị bệnh Gout, nhưng rất hữu ích để hỗ trợ điều trị. Các biện pháp sau giúp giảm và ngăn ngừa triệu chứng :
Giảm béo. Duy trì cân nặng hợp lý bằng cách giảm cân từ từ giúp giảm nồng độ acid uric máu, đồng thời giảm bới sự chịu đựng sức nặng của các khớp. Tuy nhiên không nên nhịn đói để giảm cân nhanh vì như vậy lại càng làm tăng acid uric máu.
Tránh ăn quá nhiều đạm động vật. Đây là nguồn chứa nhiều purin. Các thực phẩm chứa nhiều purin như tạng động vật (gan, thận, não, lách), cá trồng, cá trích, cá thu,…các loại thịt, cá, gia cầm chứa ít purin hơn.
Giới hạn hoặc tránh rượu. Uống quá nhiều rượu làm giảm bài tiết acid uric. Giới hạn dưới hai cốc mỗi ngày nếu bạn là nam, môt cốc nếu bạn là nữ. Nếu bạn đang bị Gout, tốt nhất nên tránh hoàn toàn rượu bia.
Ăn uống nhiều nước, chất lỏng. Dịch làm pha loãng nồng độ acid uric trong máu bạn.
Bs Phạm Xuân Hậu

Thứ Ba, 5 tháng 6, 2012

Như thế nào là bệnh gút

Bệnh gout là 1 dạng viêm khớp thể hiện qua những cơn đau, sưng khớp. điểm đặc thù là đau nhức, sưng, đỏ, và nóng cũng như cứng (khó cử động) trong 1 hay nhiều khớp. Không điều trị, các cơn đau cứ tái đi tái lại và có thể gây ra thương tổn khớp, gân, và các mô khác. Bệnh gout phổ biến nhất trong nam giới (trên 40).

Nguyên nhân?
Bệnh gout bị gây ra do quá nhiều axit uric trong máu (còn gọi là đa axit uric): trên 420 μmol/L (ở nam) hay 380 μmol/L (ở nữ). Đa axit uric thường thì vô hại, và đa số người có độ axit uric trong máu cao không phát triển thành bệnh gout. Nguyên nhân chính của chứng đa axit uric đôi khi không phát hiện được, mặc dù các yếu tố di truyền dường như cũng có ảnh hưởng. Khi mức axit uric trong máu quá cao, axit uric có thể kết tủa thành các tinh thể (dài hình kim, đầu nhọn) tích tụ trong khớp xương. Bệnh gout hình như bộc phát không có nguyên nhân cụ thể, hoặc gây ra do:
những điều kiện liên quan đến chế độ ăn và trọng lượng cơ thể như:
béo phì (14kg trên mức cân lý tưởng)  
uống rượu, nhất là bia, từ mức trung bình đến rất nhiều (trên 2 ly/ngày đối với nam, 1 ly đối với nữ)  
chế độ ăn nhiều thịt và đồ biển (chứa nhiều purine)  
chế độ ăn kiêng rất ít ca-lô-ritrị liệu có thể làm tăng mức tập trung axit uric như:  
thường dùng aspirin hay niacin (1-2 viên/ngày)  
thuốc làm giảm lượng muối và nước trong cơ thể (như thuốc xổ tiểu làm giảm huyết áp)  
trị liệu làm tế bào chết nhanh chóng (ví dụ, xạ trị điều trị ung thư)  
thuốc khống chế hệ miễn nhiễm như cyclosporine, dùng để ngăn cơ thể không phản ứng với 1 bộ phận ghép
bệnh nặng hay các tình trạng sức khỏe như:
bệnh thận mãn tính
cao huyết áp
những điều kiện gây ra mức sản sinh tế bào bất thường như: psoriasis, multiple myeloma, hemolytic anemia, hay ung bướu
nhiễm độc chì
thiểu năng tuyến giápgiải phẫusinh ra với tình trạng hiếm có gây cao axit uric trong máu. Những người bị hội chứng Kelley-Seegmiller hay Lesch-Nyhan bị thiểu năng 1 phần hay toàn phần trong 1 phân hóa tố giúp kiểm soát mức axit uric. Những tinh thể kết tủa còn có thể gây ra 1 chứng khác, gọi là gout giả. Nhưng thay vì gồm có axit uric, tinh thể gout giả lại được tạo thành từ dihydrat pyrophosphat calci. Và trong khi gout giả có thể tấn công ngón chân cái, nó thường tấn công những khớp to như đầu gối, cổ tay, và khớp bàn chân (ở mắt cá).
Bệnh gout thường phát ra sau 1 số năm tích tụ tinh thể axit uric trong khớp và các mô bao quanh. Triệu chứng bao gồm: nóng, đau, sưng, và rất mềm ở 1 khớp, thường là 1 ngón chân cái. Triệu chứng này gọi là podagra.
Các triệu chứng khác có thể gồm: 
da rất đỏ hay hơi tím quanh khớp bị đau, có vẻ bị nhiễm trùng.sốtcử động khớp hạn chế Triệu chứng gout thay đổi.triệu chứng có thể có sau 1 cơn bệnh hay giải phẫumột số người có thể không bị gout với những cơn đau mà là gout mãn tính. Gout mãn tính ở những người lớn tuổi có thể ít đau hơn và có thể bị nhầm với các loại viêm khớp khác.bệnh gout có thể xuất hiện như những cục trên bàn tay, khuỷu tay, hay tai. Có thể không có những triệu chứng thông thường. Đến lúc bạn thấy những triệu chứng của gout, thì axit uric đã tích tụ trong máu, và kết tủa axit uric đã có trong 1 hay nhiều khớp rồi. Ngón chân cái thường bị nhất; tuy nhiên, khớp bàn chân, mắt cá, đầu gối, cổ tay, ngón tay, và khuỷu tay cũng có thể bị. Sưng túi dịch đệm các cơ có thể thấy, nhất là ở khuỷu tayvà đầu gối.
Những cơn đau nhẹ có thể ngưng sau vài giờ hay kéo dài 1-2 ngày. Những cơn đau này thường bị chẩn đoán sai là “bong gân” dù rằng không bị tổn thương nặng hay vận động quá nhiều. Cơn đau nặng có thể kéo dài đến nhiều tuần, đau có thể đến cả tháng. Đa số những người bị cơn đau thứ nhì trong vòng 6 tháng đến 2 năm sau lần thứ nhất, nhưng khoảng cách giữa những cơn đau có thể là nhiều năm. Nếu không chữa trị, khoảng cách sẽ giảm theo thời gian. Tuy nhiên, một số người không bao giờ bị đau lần 2. Bệnh gout có 4 giai đoạn.
Giai đoạn 1: độ uric trong máu cao (không triệu chứng)
Giai đoạn 2: viêm khớp cấp tính Các tinh thể axit uric bắt đầu tích tụ trong chất dịch ở khớp, thường là 1 khớp (phổ biến nhất là ngón chân cái) và cơ thể phản ứng sưng đột ngột: đó là cơn đau gout. Khoảng 10-25% người bị gout sẽ bị sỏi thận. Khoảng 10-40% người bị gout có sỏi thận trước khi bị cơn đau khớp. Sau cơn đau, khớp bị đau và các mô xung quanh cảm thấy bình thường trong vòng vài ngày cho đến khi bị lần tiếp theo, thường xảy ra trong vòng 2 năm.
Giai đoạn 3: đau cách khoảng Nếu bạn đã từng bị cơn đau gout, bạn rất có thể bị 1 cơn nữa. Ở bệnh này, bạn không thấy triệu chứng trong thời gian giữa 2 lần đau. Ở nhiều người, giai đoạn này tiến triển chậm khi các cơn đau xảy ra thường hơn. Những cơn sau có thể đau hơn, lâu hơn, và ở nhiều khớp hơn.
Giai đoạn 4: gout mãn tính Nếu triệu chứng gout tái đi tái lại mà không điều trị trong 10 năm hay lâu hơn, chúng có thể trở thành mãn tính và thường tấn công nhiều khớp hơn. Có thể không còn khoảng cách giữa các cơn đau. Giai đoạn này thường bị nhầm với các dạng viêm khớp khác, nhất là viêm xương khớp. Đến lúc này, đã đủ tinh thể axit uric tích tụ trong cơ thể để tạo thành những cục trông giống phấn bảng gọi là tophi. Khi ở dưới da, những cục này thường cứng và chạy tới chạy lui.Lớp da trên đó có thể mỏng và đỏ. Những cục tophi sát da có thể có màu kem hay vàng. Ban đầu, các cục tophi thường thấy ở hay gần khuỷu tay, trên ngón tay, ngón chân, hay trên vành ngoài của tai. Nếu tình trạng cứ tiến triển mà không chữa trị, cục tophi có thể xuất hiện ở lớp sụn của tai hay các mô quanh khớp (túi dịch, dây chằng và gân), gây đau đớn, sưng, đỏ, nóng (viêm). Có thể tàn tật, cũng như sụn và xương bị hủy hoại. May thay, những tấn công trong cách điều trị sớm đã làm cho giai đoạn này ít xảy ra.
Những gì làm tăng nguy cơ bị bệnh?
Những yếu tố dưới đây (ngoài những gì đã nêu ở phần “nguyên nhân”) có thể hoặc là gây ra đa axit uric hoặc làm khớp dễ bị đóng axit uric :nam (40-50 tuổi); nữ sau mãn kinhtiền sử gia đình bị bệnh gout (nguy cơ 20%)thường bị mất nướctổn thương khớp vữa động mạchbệnh timtiểu đườngcao cholesterol (mỡ trong máu)hẹp động mạch
Kiểm tra & xét nghiệm Cách duy nhất để chẩn đoán bệnh gout là xét nghiệm chất dịch ở khớp để xem có các tinh thể axit uric không. Tuy nhiên, ở những người bị ngón chân cái sưng cấp tính, đỏ và đau, thì thường khó lấy được dịch khớp. Những kiểm tra và xét nghiệm sau đây có thể giúp chẩn đoán và điều trị bệnh gout:tiền sử y lý & thể lựcxét nghiệm đo mức axit uric trong máuxét nghiệm đo mức axit uric trong nước tiểu Trong khi chiếu X-quang các đầu chi (bàn tay, bàn chân) đôi khi giúp chẩn đoán ở các giai đoạn cuối, thường thì X-quang không giúp chẩn đoán bệnh gout ở thời kỳ đầu. Ở giai đoạn cuối, các cục tophi hay cả các chỗ xương thoái hóa gần khớp có thể trông thấy. cơn đau gout thường khiến người bệnh đi bác sĩ trước khi những thay đổi lâu dài có thể phát hiện được bằng X-quang. Tuy thế, X-quang có thể giúp loại bỏ các nguyên nhân gây viêm khớp khác.
Mục tiêu điều trị gout là giảm đau nhanh và phòng những cơn đau sau này cùng những tiến triển lâu dài, như hỏng khớp và hư thận. Điều trị gồm có thuốc và các bước thực hiện ở nhà để ngăn chặn những cơn đau sau này.
Trị liệu ban đầu
Trị liệu bệnh gout với thuốc nhằm giảm các triệu chứng và các biện pháp lọai bỏ nguyên nhân gây bệnh. Liệu pháp cụ thể còn tùy bạn đang bị cơn đau cấp tính hay đang ngăn ngừa các cơn đau sau. Để giảm đau, sưng, đỏ, và nóng ở khớp bị đau trong cơn tấn công cấp tính:
cho khớp bị đau được nghỉuống 1 hay nhiều loại thuốc sau đây ngay khi có dấu hiệu đầu tiên của cơn đau, theo toa bác sĩ:  * các loại thuốc chống viêm không có steroid như ibuprofen (như thuốc cảm Advil, Motrin…), naproxen (như Aleve, …) hay indomethacin. Hãy lưu ý rằng những loại thuốc này có thể gây ra tác dụng phụ, gồm cả đau bao tử, xuất huyết và loét bao tử. Hơn nữa, các thuốc này có tác dụng nóc – giới hạn của tác dụng giảm đau. Điều này có nghĩa là trên liều lượng tối đa, thì thuốc cũng không có thêm tác dụng giảm đau. Ngoài ra, nên tránh uống aspirin vì nó có thể gây ra thay đổi đột ngột về mức axit uric trong máu và làm bệnh tệ hơn.
colchixincorticosteroid (ví dụ như Prednisone)
 * probenecid, sulfinpyrazone
kích thích tố adrenocorticotropic
Một khi cơn đau cấp tính đã qua, bác sĩ có thể đề nghị trị liệu phòng ngừa để làm chậm lại hay tăng lên tốc độ cơ thể sản sinh ra axit uric.
Điều chỉnh chế độ ăn uống
Vì béo phì có thể liên quan đếnmức axit uric cao, bác sĩ thường chỉ định chế độ ăn uống đặc biệt để giúp giảm / kiểm soát trọng lượng cơ thể. Nhưng kiêng cữ hay áp dụng chế độăn uống quá nghiêm nhặt có thể nâng mức axit uric và làm bệnh gout tệ thêm.
Thay đổi loại thuốc trị cao huyết áp, nếu có uống.
Để ngăn ngừa cơn đau tái phát: Uống những loại thuốc làm giảm mức axit uric trong máu:thuốc giúp thận tăng sự ức chế axit uric: như benzbromarone, probenecid (Benemid), sulfinpyrazoneallopurinol làm giảm mức cơ thể sản sinh axit uriccolchicines thường được chỉ định để ngừa cơn đau bộc phát trong những tháng đầu bạn dùng thuốc hạ axit uric.
Theo các bước để giảm nguy cơ tái phát:
- Thừa cân là 1 yếu tố dễ mắc bệnh gout. Nếu bạn thừa cân, 1 chế độ ăn ít dầu mỡ có thể giúp bạn giảm cân. Tuy nhiên, các chế độ ăn kiêng quá ít ca-lô-ri lại làm cơ thể tăng lượng axit uric và có thể gây ra cơn đau gout. - Chất cồn có thể làm thận giảm bài tiết axit uric ra nước tiểu, làm tăng mức axit uric trong cơ thể. Bia, rất giàu chất purin, hình như có hại hơn một số thức uống có cồn khác. - Các chế độ ăn nhiều thịt và đồ biển (là những thực phẩm giàu purin) có thể làm tăng mức axit uric. - Một số thuốc có thể được chỉ định cho các bệnh khác lại làm giảm mức thải axit uric của thận. Gồm có các loại thuốc viên giảm muối và nước trong cơ thể, niacin, hoặc thường xuyên dùng aspirin. Trao đổi với bác sĩ về các loại thuốc khác có cùng hiệu quả nhưng an toàn hơn đối với bệnh gout. - Theo 1 chương trình thể dục vừa phải. Đa số bệnh nhân gout sẽ phải uống thuốc giảm axit uric suốt đời. Tuy nhiên, trong một vài trường hợp, một số người có thể giảm mức axit uric đến bình thường bằng cách kiểm soát trọng lượng của mình, không uống rượu, và tránh dùng 1 số thuốc cho các bệnh khác. Khi mức axit uric trong máu cao nhưng không có triệu chứng đau, thì trị liệu là không cần thiết ở những người khỏe mạnh. Tuy nhiên, những người có mức axit uric quá cao có thể phải thường xuyên xét nghiệm để xem dấu hiệu tổn thương thận, và cần trị liệu lâu dài để giảm mức axit uric cho đến mức bình thường.

Trị liệu kéo dài
Nếu bạn đã bị 1 cơn đau gout, bạn có nhiều khả năng bị lại, nhất là nếu bạn không dùng thuốc hay các trị liệu khác. Mục tiêu trị liệu là ngăn ngừa các cơn tái phát sau này, giảm mức axit uric,  phát hiện cũng như điều trị các nguyên nhân gây cao axit uric.
Khi nào phải đến bác sĩ? Gọi hay đến bác sĩ ngay nếu bạn có những triệu chứng sau:đau dữ dội ở 1 khớp, bộc phát rất nhanh - sưng, mềm khớp với lớp da bên trên nóng, đỏ.

Chờ đợi trong cảnh giác
Trong 1 cơn đau gout, bạn có thể làm giảm nhẹ bằng cách uống thuốc chống viêm không có steroid (NSAID), và để khớp đau được nghỉ ngơi, cho đến khi cơn đau chấm dứt. Khăn chườm nóng và nâng bộ phận có khớp đau lên cao có thể giúp bạn cảm thấy đỡ hơn. Mặc dù aspirin cũng là 1 NSAID, đừng dùng nó khi bị gout. Bạn nhất thiết phải đến bác sĩ cho dù cơn đau đã qua. Axit uric tích tụ đã gây ra cơn gout có thể vẫn còn tấn công khớp của bạn và cuối cùng có thể làm tổn thương khớp. Bác sĩ có thể cho toa để ngăn ngừa hay đảo ngược mức tích tụ axit uric.

sút cân nhanh, như ở các bệnh nhân trong bệnh viện thay đổi chế độ ăn hay thuốc uống.
Triệu chứng?
Cơn đau bắt đầu trong đêm và nhiều đến mức chỉ cần tấm drap trải giường chạm nhẹ vào cũng đau không chịu nổi.
Sự khó chịu tăng nhanh, kéo dài mấy giờ trong đêm rồi giảm trong 2-7 ngày sau đó.
Khi cơn gout giảm, lớp da quanh khớp bị đau có thể tróc ra hay ngứa.
Chuyện gì xảy ra?
Chẩn đoán bệnh gout
Cách điều trị
Mặc dù các loại steroid có thể làm giảm đau rõ rệt, chúng cũng có thể gây ra tác dụng phụ, kể cả loãng xương, chậm lành vết thương và suy giảm hệ miễn dịch. Đôi khi bác sĩ tiêm cortison vào khớp đau. Nhưng cách này vẫn có thể gây ra tác dụng phụ, và tiêm thì không quá 3 mũi một năm.
Đa số bệnh nhân gout có thể ăn những gì mình thích, trong giới hạn. Những người bị sỏi thận do axit uric có thể cần tránh hay giới hạn những thực phẩm (có nhiều purin) làm tăng mức axit uric như: cá mòi, cá cơm, cá trích, sò ốc (như: paua, pipi, hến, trai), trứng cá, sò điệp, nước hầm xương, nước sốt (lấy từ lò nướng), óc, cật, gan, tim, lưỡi, bao tử, phèo/lá lách, và thịt đỏ (như thịt bò/cừu; nhất là thịt quay/ nướng); măng tây, nấm, đậu Hòa lan, đậu lentil, và đậu ve. Hầu hết mọi người mỗi ngày chỉ nên ăn khoảng 150-200g thịt nạc heo/bò, thịt gà, hay cá. Những bệnh nhân gout có thể uống cà phê và trà, nhưng cần phải giới hạn mức cồn (nhất là bia và rượu). Để tống các tinh thể axit uric ra khỏi cơ thể, bệnh nhân gout nên uống mỗi ngày ít nhất 10-12 ly nước lã hay nước giải khát không cồn (loại ly thấp ¼ lít).
Ngăn ngừa
Không có cách nào đảm bảo ngăn ngừa các cơn gout đầu tiên hay sau đó, nhưng nếu bạn đã bị gout, bác sĩ có thể chỉ định thuốc giảm nguy cơ hoặc mức độ trầm trọng của những cơn tái phát. Thuốc bao gồm allopurinol (như Zyloprim, Aloprim) và probenecid. Uống hàng ngày, chúng có thể làm chậm lại mức sản sinh và tăng mức thải axit uric. Nói chung, giữ cho mức axit uric trong giới hạn trung bình là then chốt về lâu về dài trong việc ngăn chặn gout.

Theo: TS.BS HOÀNG KHÁNH TOÀN (Viện 108)