Hiển thị các bài đăng có nhãn thuoc chua benh gut. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thuoc chua benh gut. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2015

Nhóm thuốc kháng viêm không steroid (KVKS- NSAIDs)

Nhóm thuốc kháng viêm không steroid (KVKS- NSAIDs) được chỉ định để điều trị bệnh gút .Các thuốc kháng viêm ức chế chọn lọc COX2 (được chọn lựa đầu tiên vì thường phải sử dụng dài ngày và ít có tương tác bất lợi với methotrexat) Celecoxib: 200mg, uống 1 đến 2 lần mỗi ngày.

Nhóm thuốc kháng viêm không steroid (KVKS- NSAIDs)
Nhóm thuốc kháng viêm không steroid (KVKS- NSAIDs)
Hoặc Meloxicam: 15 mg tiêm (chích) bắp hoặc uống ngày một lần. Hoặc Etoricoxib: 60 - 90 mg, ngày uống một lần.
Các thuốc thuốc kháng viêm ức chế không chọn lọc Diclofenac : uống hoặc tiêm bắp: 75mg x 2 lần/ngày trong 3 - 7 ngày.
Sau đó uống: 50 mg x 2 - 3 lần/ ngày trong 4 - 6 tuần.
Brexin (piroxicam + cyclodextrin) 20mg uống hàng ngày  Hoặc các thuốc kháng viêm không steroid khác (liều tương đương).
 Lưu ý: khi dùng cho các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ có các tác dụng không mong muốn của thuốc KVKS (NSAIDs) (bệnh nhân già yếu, tiền sử (tiền căn) bị bệnh lý dạ dày…) hoặc điều trị dài ngày, cần theo dõi chức năng thận và bảo vệ dạ dày bằng các thuốc ức chế bơm proton.
 +  Corticosteroids (Prednisolone, Prednisone, Methylprednisolone)
 Thường sử dụng ngắn hạn trong lúc chờ đợi các thuốc điều trị cơ bản có hiệu lực. Chỉ định khi có đợt tiến triển (tiêu chuẩn đợt tiến triển xem ở phần Phụ lục)
 Thể vừa: 16-32 mg methylprednisolon (hoặc tương đương), uống hàng ngày vào 8 giờ sáng, sau ăn.
 Thể nặng: 40 mg methylprednison TM mỗi ngày.
Thể tiến triển cấp, nặng, đe doạ tính mạng (viêm mạch máu, biểu hiện ngoài khớp nặng): bắt đầu từ 500-1.000mg methylprednisolone truyền TM trong 30-45 phút/ngày, điều trị 3 ngày liên tục. Sau đó chuyển về liều thông thường. Liệu trình này có thể lặp lại mỗi tháng nếu cần.
 Sử dụng dài hạn (thường ở những bệnh nhân nặng, phụ thuộc corticoid hoặc có suy thượng thận do dùng corticoid kéo dài): bắt đầu ở liều uống: 20mg hàng ngày, vào 8 giờ sáng. Khi đạt đáp ứng lâm sàng và xét nghiệm, giảm dần liều, duy trì liều thấp nhất (5 - 8mg hàng ngày hoặc cách ngày) hoặc ngƣng (nếu có thể) khi điều trị cơ bản có hiệu lực (sau 6-8 tuần).
-  Điều trị cơ bản bằng các thuốc chống thấp làm thay đổi tiến triển của bệnh (Disease Modifying Anti Rheumatic Drug-DMARDs) để làm chậm hoặc làm ngừng tiến triển của bệnh, cần điều trị lâu dài và theo dõi các triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng trong suốt thời gian điều trị).
+ Thể mới mắc và thể thông thường: sử dụng các thuốc DMARDs kinh methotrexat khởi đầu 10 mg một lần mỗi tuần. Tùy theo đáp ứng mà duy trì liều cao hoặc thấp hơn (7,5 - 15 mg) mỗi tuần (liều tối đa là 20 mg/tuần)
Hoặc Sulfasalazin  khởi đầu 500 mg/ngày, tăng mỗi 500 mg mỗi tuần, duy trì ở liều 1.000 mg x 2 lần mỗi  ngày
 Kết hợp: methotrexat với sulfasalazin hoặc hydroxychloroquine nếu đơn trị liệu không hiệu quả
Kết hợp: methotrexat, sulfasalazin và hydroxychloroquine nếu kết hợp trên không hiệu quả
 + Thể nặng, kháng trị với các DMARDs kinh điển (không có đáp ứng sau 6 tháng) cần kết hợp với các thuốc sinh học (các DMARDs sinh học)
Trước khi chỉ định các thuốc sinh học, cần làm các xét nghiệm để sàng lọc lao, viêm gan, các xét nghiệm chức năng gan thận và đánh giá mức độ hoạt động bệnh (máu lắng hoặc CRP, DAS 28, HAQ)
Kết hợp methotrexate và thuốc kháng Interleukin 6 (tocilizumab) methotrexat 10 - 15 mg mỗi tuần + tocilizumab  4 – 8mg/kg cân nặng, tương đương 200 – 400mg  truyền TM mỗi tháng một lần.
Hoặc kết hợp methotrexate và một trong 3 loại thuốc kháng TNF  sau: 
methotrexat 10-15 mg mỗi tuần + etanercept 50mg tiêm dưới da mỗi tuần một lần. methotrexat 10-15mg mỗi tuần + infliximab TTM 2-3mg/kg mỗi 4 - 8 tuần. methotrexat 10-15mg mỗi tuần +   adalimumab 40mg tiêm dưới da 2 tuần một lần Hoặc kết hợp methotrexate và thuốc kháng lympho B (rituximab) methotrexat 10 - 15 mg mỗi tuần + rituximab truyền TM 500 – 1000mg x 2 lần, cách 2 tuần, có thể nhắc lại một hoặc hai liệu trình mỗi năm.
Sau 3 – 6 tháng điều trị, nếu thuốc sinh học thứ nhất không hiệu quả, có thể xem xét thuốc sinh học thứ 2, tương tự nhờ vậy, có thể xem xét thuốc sinh học thứ 3 khi sau 3 – 6 tháng, thuốc sinh học thứ 2 không hiêu quả. 

Thứ Ba, 2 tháng 6, 2015

Thế nào là khỏi bệnh gút?

Bạn chỉ có thể được coi là đã chữa khỏi bệnh gút nếu như sau khi kết thúc điều trị bạn không còn tiêu chuẩn nào để chẩn đoán bệnh gút.
Thế nào là điểu trị khỏi bệnh gút
Tinh thể muối urat lắng đọng trong cơ thể bệnh nhân gút chính là tác nhân gây ra các cơn viêm đau khớp gút cấp và mạn tính. Vì vậy chỉ cần tìm thấy tinh thể muối urat trong dịch khớp hay trong cục tophi được coi là tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh gút mà không cần thêm bất cứ điều kiện nào khác.
Ngoài những tinh thể muối urat trôi nổi được tìm thấy trong dịch khớp hoặc có thể không tìm thấy thì hầu như bệnh nhân gút nào cũng có tinh thể muối urat lắng đọng thành từng mảng bám chặt vào mặt sụn khớp. Những mảng bám tinh thể muối urat này còn hình thành trước cả khi xuất hiện cơn viêm đau khớp gút cấp đầu tiên từ rất lâu. Dấu hiệu của những mảng bám tinh thể này có thể được tìm thấy qua siêu âm khớp. Khi các tinh thể muối urat từ mảng bám rơi vào ổ dịch khớp chúng sẽ kích hoạt cơn viêm đau khớp gút cấp. Mặc dù những cơn viêm đau khớp gút cấp đã chấm dứt, một phần tinh thể muối urat vừa gây ra phản ứng viêm vẫn tiếp tục lắng đọng lại làm cho mảng bám tinh thể ngày càng dầy hơn. Người bệnh vẫn còn nguyên tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh gút. Nếu như không có thêm những tinh thể muối urat kết tủa mới thì những tinh thể muối urat đang bám trên mặt sụn khớp vẫn có thể tiếp tục là tác nhân gây ra những đợt viêm khớp gút cấp tái phát.
Vì vậy để chữa khỏi hoàn toàn bệnh gút bạn phải loại bỏ hết tinh thể muối urat đã lắng đọng trong cơ thể và kiểm soát được nguy cơ tinh thể muối urat tiếp tục lắng đọng mới.

Thứ Tư, 12 tháng 2, 2014

Viện Gút - Thuốc chữa bệnh gout


Viện Gút -  Để chữa đươc bệnh gút cần phải làm tan được các vi tinh thể muối urat natri đã lắng đọng và loại bỏ các điều kiện để acid uric không kết tủa thành tinh thể muối urat, cũng như tăng khả năng thực bào vi tinh thể muối urat natri của bạch cầu đa nhân trung tính.
Viện Gút- Điều trị chống viêm, giảm đau mới chỉ giải quyết được triệu chứng của từng đợt gút cấp, còn các thuốc làm giảm nồng độ acid uric máu mới chỉ hạn chế kết tủa thêm các vi tinh thể muối urat natri mới, nhưng các vi tinh thể muối urat natri đã lắng đọng trong cơ thể vẫn còn tồn tại và sẽ tiếp tục gây những phản ứng viêm mới.

Do thấy được những hạn chế của các loại thuốc điều trị gút hiện nay, cũng như xác đinh được yêu cầu của các loại thuốc mới điều trị gút và các bệnh mạn tính kèm theo, các giáo sư, bác sỹ của Viện Gút TP.HCM đã tập trung nghiên cứu và điều chế thành công những sản phẩm từ các loại thuốc thảo dược có tác dụng thúc đẩy các điều kiện làm tan được những tinh thể muối urat đã lắng đọng trong cơ thể như TP2601, TP640.
Thuoc-chua-benh-gout

Ngoài ra trên bệnh nhân gút thường có rất nhiều bệnh mạn tính kèm theo, trong khi mỗi loại thuốc tây y điều trị các bệnh này lại đều có tác dụng vào các đích hẹp để giải quyết triệu chứng do đó các giáo sư, bác sỹ của Viện Gút TP.HCM đã tập trung nghiên cứu và điều chế thành công những loại thuốc từ thảo dược để điều trị phối hợp các nhóm bệnh này như :
GTP01, GD108, Liveric có tác dụng làm giảm men gan nhanh, điều trị phục hồi sơ gan còn bù, diệt sạch virus viêm gan B, thải độc gan...
TTP69 - Có tác dụng hỗ trợ điều trị  viêm cầu thận cấp và mạn tính, suy thận, tan nhanh các loại sỏi thận, chống tái hấp thu urat tại thận.
Cardozamin : Là một sản phẩm đặc biệt cho tim mạch, cơ chế của nó là làm tan và ngăn chặn hình thành các cục máu đông, trợ tim, làm sạch lòng mạch nên Cardozamin có khả năng cấp cứu rất nhanh những cơn đau thắt ngực do thiếu máu cơ tim. Khi bệnh nhân bị lên cơn đau thắt ngực chỉ cần ngậm từ 2 - 3 viên cardozamin dưới đầu lưỡi trong khoảng 1 phút là cơn đau sẽ dịu ngay. Nếu bệnh nhân chuẩn bị phải can thiệp bằng đặt sten mà được điều trị tích cực bằng cardozamin có thể sẽ không phải đặt sten nữa
Ninorin, Morinda là những loại thảo dược có tác dụng tăng chuyển hóa chung, giúp hỗ trợ điều trị bệnh gút,  viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớpKTP08 : Chống viêm mạnh cho các trường hợp thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp.
Vigotex : có tác dụng giãn vi mạch tuần hoàn giúp tưới máu cho thận, cho não và tăng tuần hoàn chung rất tốt, giúp hỗ trợ điều trị suy thận, yếu sinh lý...
Hệ thống thuốc mà các giáo sư, bác sỹ của Viện Gút nghiên cứu có nguồn gốc hoàn toàn từ thảo dược nên an toàn khi phối hợp nhiều loại khi bệnh nhân có nhiều bệnh lý kèm theo. Trong 3 năm qua hàng ngàn bệnh nhân gút bị biến chứng với những tổn thương rất nặng về gan, thận, tim mạch, khớp đã được cứu chữa phục hồi hiệu quả. Để việc điều trị đạt kết quả cao nhất, bệnh nhân cần phải được chẩn đoán, và theo dõi điều trị nên các loại thuốc này không được bán trên thị trường tự do mà nằm trong chương trình điều trị có kiểm soát tại các phòng khám của Viện Gút TP.HCM. 
Các Phòng khám của Viện Gút :
Khu vực phía Bắc : A22- Hải Đông, Phường Hải Tây, Tp. Hải Dương

Khu vực miền Trung : 125 Ông ích Khiêm, Q Hải Châu, TP. Đà Nẵng
Các Phòng khám của Viện Gút
Tại thành phố Hồ Chí Minh
ĐC: 98 Yên Thế, P.2, Q.Tân Bình 
Đường dây nóng: 0982180080Giờ làm việc:
Sáng từ: 06h30 - 11h30
Chiều từ: 13h00 - 16h30
Từ thứ 2 đến thứ 7 (CN nghỉ)
A42 Hải Đông - Phường Hải Tân - Tp Hải Dương
Đường dây nóng: 0983083055
Giờ làm việc:
Sáng từ: 07h00 - 11h30
Chiều từ: 13h30 - 17h00
Từ thứ 2 đến thứ 7 (CN nghỉ)
ĐC: 125 Ông Ích Khiêm, P. Thanh Bình, Q. Hải Châu
Đường dây nóng: 0976018104
Giờ làm việc:
Sáng từ: 07h30 - 12h00
Chiều từ: 13h30 - 16h30
Từ thứ 2 đến thứ 7 (CN nghỉ)
Khu vực phía Nam : 98 Yên Thế, Phường 2, Quận Tân Bình, TP.HCM